Tam pháp ấn của Phật giáo: Hiểu để thấu suốt khổ đau, làm chủ cuộc đời
Mục Lục [Ẩn]
- Tam pháp ấn là gì? Giác ngộ về ba sự thật của cuộc đời - khổ, vô thường, vô ngã
- Sự thật về khổ: Cuộc đời này là đau khổ, tăm tối
- Sự thật về vô thường: Vạn sự, vạn vật đều không ngừng biến đổi
- Sự thật về vô ngã: Không tồn tại cái “tôi”, cái “của tôi”
- Các pháp thực hành để thoát khổ, được an vui
- 1. Thực hành Bát chánh đạo: Con đường đi đến diệt khổ
- 2. Quán chiếu vô thường
- 3. Quán chiếu vô ngã
- 4. Thực hành thiểu dục tri túc
- 5. Thực hành văn - tư - tu
Tam pháp ấn là dấu ấn của đạo Phật, gồm: khổ, vô thường, vô ngã. Chúng ta vì không hiểu sự thật về cuộc đời, không hiểu vô thường, vô ngã nên chạy theo những thú vui trần thế và càng ngày càng khổ. Thực chất, những thú vui đó chỉ là hạnh phúc tạm bợ, không mang đến an lạc, hạnh phúc dài lâu.
Đạo Phật giúp chúng ta thấu hiểu và biết cách quán chiếu sâu sắc về sự thật của cuộc đời - khổ, vô thường, vô ngã (tam pháp ấn); từ đó đoạn trừ được đau khổ, sợ hãi, bất an để làm chủ cuộc đời, được hạnh phúc tuyệt đối.
Tam pháp ấn là gì? Giác ngộ về ba sự thật của cuộc đời - khổ, vô thường, vô ngã
Tam pháp ấn là những sự thật hiển nhiên ở pháp giới. Bất kỳ triết thuyết hay học thuyết nào về đời sống nhân sinh thể hiện được những dấu ấn này, thì đó là chính Pháp.
Sự thật về khổ: Cuộc đời này là đau khổ, tăm tối
Khổ là chân lý đầu tiên trong Tứ diệu đế (khổ đế). Đức Phật khẳng định cuộc đời này là khổ, là tăm tối; được thể hiện ở những khía cạnh sau:
a. Tám nỗi khổ lớn của kiếp nhân sinh:
(1) Sinh là khổ: Từ khi mang thai, người mẹ và thai nhi trong bụng đều có những nỗi khổ. Người mẹ thì rất nặng nề, vất vả, mệt nhọc. Thai nhi ở trong bụng mẹ - nơi tối tăm mờ mịt, bị chèn bị ép; mẹ ăn nóng thì bị nóng, ăn lạnh thì bị lạnh;...
Đến ngày sinh, để sinh con ra, người mẹ cũng phải chịu đau đớn, có thể gặp nguy hiểm đến tính mạng. Khi thai nhi sinh ra đời tiếp xúc với môi trường bên ngoài thì đau rát, cảm nhận sự khác lạ nên vừa chào đời đã khóc. Sinh ra rồi, để nuôi dưỡng được thân đó cũng rất cực khổ, phải ngày đêm làm lụng vất vả. Chưa kể, nơi thân này sinh ra nhiều bệnh tật khiến chúng ta khổ.
(2) Già là khổ: Ở tuổi tầm 50 trở lên, chúng ta bắt đầu thấm già là khổ. Bởi khi ấy đủ thứ khổ của già sinh ra như: mắt mờ, tai điếc, tay mỏi, lưng còng, trí tuệ lẫn lộn,... và cảm thấy mình trở nên vô dụng.
(3) Bệnh là khổ: Khi bị bệnh, không ai là không khổ. Vì vậy, chẳng ai muốn bị bệnh, thế nhưng bệnh vẫn đến với chúng ta, không bệnh này thì bệnh kia. Có những bệnh xâm nhập từ bên ngoài như: virus, môi trường độc hại, thức ăn độc hại; có những bệnh ngay từ thân thể sinh ra như ung thư, mụn nhọt,...
(4) Chết là khổ: Chết là chấm hết cuộc đời, công danh, địa vị, tài sản, vợ con,... cho đến thân này cũng phải buông bỏ, để lại hết. Và khi chết đi, chúng ta sợ hãi vì không biết về đâu.
(5) Ái biệt ly khổ: Phải xa lìa những người mình thương yêu, quý mến khiến chúng ta khổ. Ví dụ: Người yêu phải đi công tác xa, ta thấy khổ, bởi ta luôn mong muốn họ ở bên cạnh mình.
(6) Oán tắng hội khổ: Phải thường xuyên gặp gỡ, ở gần với những người mà bản thân oán ghét, không ưa; cho nên gây đau khổ cho nhau.
(7) Cầu bất đắc khổ: Mong cầu rất nhiều điều nhưng không được toại nguyện, hoặc cầu một đằng lại được một nẻo khiến chúng ta khổ.
(8) Ngũ ấm xí thịnh khổ: Ngũ ấm bao gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ngũ ấm xí thịnh khổ tức là thân tâm chúng ta chứa rất nhiều ham muốn mãnh liệt, cường thịnh mà không được thỏa mãn, nó thiêu đốt, khiến chúng ta khổ. Hoặc ngũ uẩn suy quá cũng khổ. Ví dụ: Lưỡi lúc nào cũng thèm vị (tức là cảm thọ cường thịnh) thì khổ, mà lưỡi không thể nếm được mùi vị cũng khổ; hoặc trong đầu nhiều suy nghĩ, tư tưởng quá thì loạn, mà ít suy nghĩ, tư tưởng lại không thể tư duy ra vấn đề;...
b. Tam khổ: Bên cạnh bát khổ, Đức Phật còn chia khổ thành ba loại:
(1) Khổ khổ (khổ chồng lên khổ): Chúng ta sinh ra ở cõi đời đã là khổ. Trong cuộc sống lại sinh ra vô vàn sự khổ khác chồng chất lên như: ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, yêu, ghét, tranh danh đoạt lợi, lừa gạt, ác hại nhau.
(2) Hoại khổ: Hoại khổ là sự hoại diệt đem đến đau khổ. Các sự các vật trong đời này đều đi đến chỗ hoại diệt, tất cả theo đúng quy luật; dính mắc vào sự việc đó thì chúng ta khổ. Ví dụ: Ngày Tết, gia đình sum họp rất vui, nhưng hết Tết mọi người đi xa thì lại khổ, lại buồn.
(3) Hành khổ: Ngay trong sự vận hành, biến đổi của thân tâm, vạn sự vạn vật cũng chứa sự khổ trong đó. Ví dụ về ngay cả một niệm khởi lên cũng đã chứa đựng sự nhọc nhằn; như lúc bị mệt, chúng ta giơ tay, giơ chân lên cũng thấy mệt.
c. Phân tích bản chất khổ của cuộc đời
Người đời sợ khổ đau nên luôn luôn trốn tránh, tìm mọi cách để khỏa lấp nỗi khổ và lại coi sự khỏa lấp ấy là vui, là hạnh phúc. Nhưng bản chất những điều ấy chỉ là giả trá, giúp chúng ta bớt khổ chốc lát. Ví dụ: Khi rét được đắp chăn, mặc áo, chúng ta thấy ấm áp nhưng thực chất là sự bớt khổ của lạnh. Hay khi đang bị đau được tiêm thuốc giảm đau, chúng ta thấy dễ chịu nhưng thực chất chỉ là bớt khổ, vì thân thể được khỏe mạnh mới có thể gọi là sung sướng. Và các cảm thọ khác trong đời đều như vậy.
Người thường xuyên tư duy, quán chiếu thiền về khổ sẽ thấm đẫm khổ này. Khi ấy, chúng ta khởi niệm cũng thấy khổ, nhọc nhằn và cả đến thở cũng thấy khổ.
Đức Phật chỉ ra nguyên nhân, cội rễ mọi sự khổ của chúng sinh là vô minh và ái dục. Nguyên nhân trực tiếp, thực tế dẫn đến khổ là ái và nguyên nhân sâu xa là vô minh.
(1) Vô minh: Vô minh là chấp thủ về cái ta, cái của ta; chấp thủ về tôi, cái của tôi; bám chấp vào nó, cho rằng có một cái tôi, cái ta thật.
(2) Ái dục: Ái dục là tham đắm, bám víu vào ngũ dục lục trần. Ái dục khiến chúng ta tạo nghiệp và nghiệp dẫn ta đi trong luân hồi.
Tham đắm, tìm kiếm ngũ dục khiến chúng ta đau khổ, phiền não (ảnh minh họa)
Sự thật về vô thường: Vạn sự, vạn vật đều không ngừng biến đổi
a. Định nghĩa:
Vô thường nghĩa là không thường còn, không vĩnh hằng, luôn luôn biến dịch và sinh diệt trong từng sát-na. Theo giáo lý Phật giáo, tất cả mọi pháp hữu vi (pháp có hình tướng như thân xác chúng sinh, máy ảnh, quả chuông, mặt trời,...) đều chịu sự chi phối của luật vô thường, đều phải biến chuyển sinh, trụ, dị, diệt.
b. Ba phương diện quán chiếu vô thường:
(1) Thân vô thường: Khi mới sinh ra, chúng ta chỉ khoảng 2-3kg, được chăm bẵm rồi lớn lên, trưởng thành, cuối cùng già và chết. Sự biến đổi này không ai có thể kìm giữ lại được.
(2) Tâm vô thường: Tâm chúng ta thay đổi liên tục, có lúc tâm đang vui, lúc nữa đã giận, đã buồn; tức là gặp cảnh, gặp duyên là nó có thể thay đổi ngay.
(3) Cảnh giới vô thường: Cõi giới không có gì lâu bền, có rồi biến mất. Ví dụ: có những nơi trước là ruộng dâu giờ biến thành biển cả hoặc trước là biển cả giờ thành nương dâu; có những con sông trước kia nước chảy xiết, giờ lấp đầy phù sa; có gia đình đang sum vầy nhưng giờ phải chia xa,... Lớp vỏ Trái Đất mong manh như vỏ quả trứng, không có gì là vững chắc; thường xuyên diễn ra các hiện tượng sụt lún, động đất, sóng thần...
Gia đình đang sum vầy, hạnh phúc nhưng sau đó là chia xa (ảnh minh họa)
c. Lý do vạn vật vô thường: Vạn sự vạn vật đều do các thành tố hợp lại, gọi là duyên hợp mà thành sự vật. Do đó, chúng không có gì để bám trụ. Cũng giống như kiểu xếp gạch, viên nọ chồng lên viên kia chứ thực chất chúng không dính với nhau.
Giữa các nguyên tử, phân tử tạo nên vật chất luôn có những khoảng cách, khoảng trống và không bám dính nhau. Điều đó nghĩa là mối liên kết của các thành tố rất lỏng lẻo. Lỏng lẻo như vậy nên nó dễ tan rã. Đây chính là lý do khiến vạn vật biến đổi, được hình thành rồi hoại diệt.
Sự thật về vô ngã: Không tồn tại cái “tôi”, cái “của tôi”
a. Định nghĩa:
Vô ngã nghĩa là không có cái "tôi" hay một chủ thể độc lập, thường hằng ở nơi thân tâm mà nó biến đổi liên tục.
b. Phân tích để phá bỏ ảo tưởng về cái ngã, cái tôi:
Thân tâm thực chất là một tổ hợp của năm uẩn (ngũ ấm) gồm: sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức ấm; và không có ấm nào làm chủ:
(1) Sắc ấm: Chúng ta nghĩ nơi thân xác này (sắc ấm) có cái tôi, nhưng tìm kỹ không thấy cái gì là tôi cả. Nó chỉ là tổ hợp của óc, não, răng, lưỡi, mũi, tim,... Mỗi bộ phận lại có tên riêng, không liên quan đến chữ tôi. Chưa kể, các bộ phận như tim, gan, thận, răng,... có thể thay thế, làm giả được. Như vậy, ngay nơi thân thể chúng ta không thấy gì gọi là tôi.
(2) Thọ ấm: Cảm thọ của chúng ta thay đổi suốt ngày; ví dụ: sáng thì vui sướng, trưa thì đau khổ, tối thì mơ màng. Nếu coi cái sướng là tôi, thì cái khổ không phải là tôi; và ngược lại. Sướng là sướng, khổ là khổ. Như vậy, cảm thọ thay đổi liên tục, không có gì là tôi cả.
Cảm xúc của chúng ta thay đổi liên tục, không có cảm xúc nào làm chủ (ảnh minh họa)
(3) Tưởng ấm: Tư tưởng của chúng ta thay đổi liên tục với những suy nghĩ miên man, nghĩ đủ mọi chuyện,... Nhưng không một suy nghĩ nào là “tôi” cả.
(4) Hành ấm: Những trạng thái yêu, ghét, thích, chán cũng sinh diệt không ngừng. Lúc ta thích thì không chán, còn lúc chán thì lại không thích. Nếu nói cái thích là tôi, thì cái chán là ai? Như vậy, hành ấm cũng không phải là tôi.
(5) Thức ấm: Là sự phân biệt, hiểu biết và chúng thay đổi theo duyên trần cảnh. Ví dụ: cảnh vui thì ta biết cảnh vui; đến khi cảnh buồn thì biết cảnh buồn,... Vậy nhận thức vui hay buồn mới là “tôi”?
Như vậy, thân vật chất hữu hình (có thể nhìn thấy, sờ vào được) hay phần tinh thần vô hình đều không có cái tôi, không có ngã - tức chúng đều vô ngã.
Các pháp thực hành để thoát khổ, được an vui
1. Thực hành Bát chánh đạo: Con đường đi đến diệt khổ
Đức Phật dạy Bát chánh đạo là con đường thực tập ngay trong cuộc sống để có thể đạt được hạnh phúc tối thượng, Niết bàn ngay trong kiếp sống, dứt trừ hết mọi sự đau khổ và mọi sự tăm tối của tâm hồn, tâm trí.
2. Quán chiếu vô thường
Quán chiếu vô thường mang lại lợi ích sau:
- Có trí tuệ, hiểu đúng, biết đúng và thấy đúng sự thật.
- Dễ cảm thông, không còn chấp trước hay oán trách: Vì hiểu rằng tất cả đều phải chịu sự chi phối của vô thường nên khi con người, sự vật thay đổi chúng ta không bị bất ngờ, ngỡ ngàng, thất vọng, đau khổ, không còn chấp trước, oán than,...
- Không buông trôi mục tiêu, lời hứa: Hiểu về vô thường, chúng ta thường nhắc nhở bản thân để nhớ được mục tiêu, chí nguyện và lời hứa của bản thân; từ đó cố gắng, phấn đấu, kiên trì để đạt được.
- Đạt được mục đích cao đẹp: Khi khéo vận dụng lý vô thường này, chúng ta có thể đạt được những mục đích cao đẹp của cuộc sống này.
3. Quán chiếu vô ngã
Quán chiếu vô ngã mang lại lợi ích sau:
- Tăng trưởng hạnh phúc: Cái “tôi” càng lớn thì buồn phiền càng nhiều; cái “tôi” nhỏ, mỏng manh thì buồn ít, hạnh phúc càng lớn.
- Không tự ái, phiền não: Người đạt đến vô ngã thì dẫu bị mắng nhiếc, nhục mạ cũng không thấy buồn, không phiền não, tự ái.
- Dứt sạch tâm ích kỷ: Người chứng ngộ vô ngã sẽ dứt sạch tâm ích kỷ, chỉ còn lòng vị tha, từ bi yêu thương.
- Tiến tới Niết bàn: Đạt được vô ngã là Niết bàn. Khi đó chúng ta được an lạc, không còn lo sợ.
4. Thực hành thiểu dục tri túc
“Thiểu dục” nghĩa là ít muốn, tức làm nhỏ dần và cuối cùng là hết dục, hết ham muốn. “Tri túc” nghĩa biết đủ, có nghĩa là ta biết hài lòng với những điều đang có hoặc những thành tựu mà ta đã phấn đấu để đạt được. Vì không tìm cầu nên không tạo nghiệp, thân tâm không bị lo buồn khổ, và sẽ được an ổn, tự do. Người thiểu dục (không ham muốn) nhiều nên lòng được thanh thản, an vui và hạnh phúc.
Trong kinh Bát Đại Nhân Giác có viết: “Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục khởi, nếu ít muốn biết đủ, thân tâm được tự tại.”
5. Thực hành văn - tư - tu
Trong giáo lý nhà Phật, văn - tư - tu (còn gọi là tam tuệ học) giúp chúng ta tăng trưởng trí tuệ. Khi trí tuệ được khai mở, chúng ta có thể giải quyết được tất cả, cắt vô minh, dứt trừ phiền não, hết đau khổ, giải thoát.
Nhờ thực hành văn - tư - tu, chúng ta sẽ khai mở trí tuệ (ảnh minh họa)
Trên đây là những chia sẻ của Thầy Thích Trúc Thái Minh về ba dấu ấn của đạo Phật (tam pháp ấn). Chúng ta hiểu rõ hơn về ba sự thật của cuộc đời khổ, vô thường, vô ngã. Việc thấu hiểu và áp dụng các sự thật này giúp chúng ta bớt khổ, đạt được cuộc sống hạnh phúc và an vui.
Ngoài ra, các bạn có thể tìm hiểu thêm những bài giảng về kiến thức Phật giáo khác tại chuyên mục Tu tập - Giác ngộ. Hoặc nếu còn điều gì thắc mắc, quý độc giả có thể để lại bình luận dưới bài viết, gửi về chuyên mục hỏi đáp hoặc liên hệ tại đây để được giải đáp. Kính chúc quý vị mạnh khỏe, an lạc!











