Thực hành Bát chánh đạo trong Phật giáo: Con đường thoát khổ, được an vui
Mục Lục [Ẩn]
Thực hành Bát chánh đạo giúp chúng ta có đời sống an ổn, hạnh phúc, thoát khỏi các sự khổ. Bát chánh đạo gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Việc thực hành 8 yếu tố này cũng cần diễn ra tuần tự, không nhảy cóc.
Kính mời quý vị cùng tìm hiểu cách thực hành trong kinh Tương Ưng Bộ, phẩm Vô Minh mà Đức Phật đã dạy qua bài viết sau.
1. Chánh kiến
Đức Phật dạy: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tri kiến? Này các Tỷ-kheo, chính là trí về khổ, trí về khổ tập, trí về khổ diệt, trí về con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tri kiến.”
Chánh kiến là hiểu biết chân chính, hiểu biết về nhân duyên, nghiệp quả, vô thường, vô ngã,... Để có chánh kiến, chúng ta cần phải học Pháp, học hiểu về Tứ diệu đế. Khi có chánh kiến, chúng ta sẽ giác ngộ được rằng, khổ không phải do ông trời hay thượng đế, một vị Thần linh nào sắp xếp, an bài mà do chính chúng ta. Chúng ta mê lầm, vô minh, tham ái khiến tạo nghiệp. Biết rõ như thế, chúng ta không oán trời, trách đất, không oán trách ai mà phải biết quay lại tự xét lại mình.
Như vậy, chúng ta phải biết rõ, chúng ta khổ là có nhân, tu tập chuyển nhân sẽ chuyển quả. Tư duy như vậy là tư duy theo chánh kiến.
Nghe Pháp giúp chúng ta có được chánh kiến
2. Chánh tư duy
Đức Phật dạy: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy? Này các Tỷ-kheo, chính là xuất ly tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư duy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tư duy.”
Chánh tư duy là tư duy, suy nghĩ đúng đắn trên cơ sở chánh kiến sẽ dẫn chúng ta đi đến chỗ đúng.
Đức Phật dạy chúng ta tư duy về sự xuất ly khỏi khổ đau, những trói buộc, phiền não. Chúng ta tư duy để thoát khỏi tìm cầu, nắm bắt, chấp trước vào ái dục - là những điều trói buộc chúng ta đau khổ. Chúng ta bị trói buộc trong vòng vây của sinh tử, tử sinh, sinh ra, rồi chết đi; kết thúc kiếp này, tiếp tục tái sinh vào kiếp sau,... Cho nên, thấy sự nguy hiểm của luân hồi, chúng ta phải tư duy để xuất ly ra khỏi luân hồi sinh tử.
Đức Phật dạy chúng ta tư duy về vô sân, về vô hại; tức là chúng ta tư duy làm sao để không khởi tâm sân, tâm ác hại, xuất ly dục, xuất ly sân, xuất ly hại. Chúng ta thấy sân là khổ. Mỗi cơn sân lên, chúng ta bị thiêu đốt rất khổ. Còn tâm hại bao gồm những việc hại người hay tự hại mình như tự tử, tự hành hạ, tự dằn vặt làm bản thân khổ,... Vậy chúng ta phải tư duy để xa lìa những tâm bất thiện ấy. Đó là chánh tư duy.
3. Chánh ngữ
Đức Phật dạy: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh ngữ.”
Chánh ngữ là nói lời chân chính. Chúng ta tư duy chân chính mới có thể nói lời chân chính, lợi ích; không nói lời ác, lời tổn hại.
Để thực hành chánh ngữ, chúng ta cần phải giữ giới của người Phật tử tại gia. Miệng có bốn điều ác: nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt và ác khẩu. Chúng ta nói mà xa rời tất cả những điều đó thì gọi là chánh ngữ.
Chúng ta cần nói những lời nói chân chính, lợi ích; không nói lời ác, lời tổn hại (ảnh minh họa)
4. Chánh nghiệp
Đức Phật dạy: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ phi Phạm hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh nghiệp.”
Chánh nghiệp là tạo nghiệp chân chính. Chúng ta có ba nghiệp ở nơi thân tâm: thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Như vậy, thân, khẩu, ý phải “chính”. Để thực hành chánh nghiệp, chúng ta cũng cần phải giữ giới của người Phật tử tại gia.
5. Chánh mạng
Đức Phật dạy: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh mạng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đoạn trừ tà mạng, nuôi sống với chánh mạng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh mạng.”
Chánh mạng là nuôi mạng sống chân chính, không bằng những nghề ác, nghề tà. Ví dụ nghề tà như buôn bán thuốc phiện, buôn bán vũ khí,...
Việc giữ giới của Phật tử tại gia chính là cách để chúng ta thực hành chánh mạng. Chúng ta sống với tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng thì không thể nào hết khổ đau, không thể giải thoát được. Chúng ta thấy ba điều ngữ - nghiệp - mạng đều nằm trong năm giới của người Phật tử tại gia. Cho nên, không có giới, không có đức, không thể nào thành đạo.
Chúng ta cần tìm hiểu, chọn cho mình nghề chân chính (ảnh minh họa)
6. Chánh tinh tấn
Đức Phật dạy: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tinh tấn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có lu mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tinh tấn.”
Chánh tinh tấn là nỗ lực đúng đắn, tinh tấn ngăn ác, diệt ác, sinh thiện và tăng trưởng thiện.
Để thực hành chánh tinh tấn, chúng ta cần thực hành Tứ chánh cần - ngăn ác, diệt ác, sinh thiện và tăng trưởng thiện:
- Ngăn ác là nếu đã, đang làm việc ác thì phải dừng không tiếp tục nữa.
- Diệt ác là không cho điều ác sinh ra.
- Sinh thiện là làm những điều thiện trước đây chưa từng làm.
- Tăng trưởng thiện là việc thiện đã làm rồi, giờ làm cho nó lớn mạnh lên.
Chúng ta cần tinh tấn làm cho các việc thiện được tăng trưởng
7. Chánh niệm
Đức Phật dạy: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh niệm.”
Chánh niệm là suy nghĩ, nhớ nghĩ về những điều thiện, điều ngay chính, cụ thể là chúng ta thực hành Tứ niệm xứ. Khi thực hành Tứ niệm xứ, chúng ta hằng nhớ nghĩ tu tập 4 Pháp: niệm thân (thân bất tịnh), niệm thọ (thọ thị khổ), niệm tâm (tâm vô thường) và niệm Pháp (Pháp vô ngã).
8. Chánh định
Đức Phật dạy: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh định? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh, nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh định.”
Để có chánh định, chúng ta cần thực tập, tu tập bốn thiền từ sơ thiền cho đến tứ thiền. Thực hành đúng tuần tự như vậy mới vào được chánh định.
Trên đây là những chia sẻ của Thầy Thích Trúc Thái Minh về phương pháp thực hành Bát chánh đạo. Mong rằng, quý vị sẽ hiểu rõ và biết cách ứng dụng vào đời sống cũng như tu tập, để có được an vui, hạnh phúc trong cuộc sống.
Ngoài ra, quý vị có thể tìm hiểu thêm những bài giảng về kiến thức Phật giáo khác tại chuyên mục Tu tập - Giác ngộ. Hoặc nếu còn điều gì thắc mắc, quý độc giả có thể để lại bình luận dưới bài viết, gửi về chuyên mục hỏi đáp hoặc liên hệ tại đây để được giải đáp. Kính chúc quý vị mạnh khỏe, an lạc!












