Tam đề ngũ quán: 3 lời nguyện và 5 phép quán khi thọ thực của chư Tăng
Tam đề ngũ quán là một phần quan trọng trong mỗi bữa ăn của chư Tăng. Trước khi dùng bữa, quý Thầy đưa bình bát lên ngang trán, dâng cơm cúng Phật, bày tỏ sự biết ơn Tam Bảo và các vị Thánh Tổ. Trong khi ăn, các Thầy thực hành đầy đủ tam đề ngũ quán nhằm thành tựu đạo nghiệp, phát nguyện tinh tấn tu hành,...
Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ tam đề ngũ quán là gì và ý nghĩa sâu sắc, nhân văn của nghi thức này trong đời sống tu học Phật.
Tam đề là gì?
Tam đề là 3 muỗng cơm đầu tiên. Cụ thể:
Muỗng cơm thứ nhất: Nguyện dứt bỏ tất cả mọi điều ác;
Muỗng cơm thứ hai: Nguyện tu tất cả các điều lành;
Muỗng cơm thứ ba: Nguyện độ tất cả chúng sinh.
Ngũ quán là gì?
Ngũ quán là 5 phép quán (5 điều cần suy xét) mà chư Tăng cần thực hành khi thọ thực (dùng bữa). Trong nhà Phật có bài kệ nhắc đến điều này như sau: “Chư Tăng khi ăn phải nhớ 5 phép quán, tán tâm nói chuyện của tín thí khó tiêu”.
Cụ thể, ngũ quán gồm:
1. Kế công đa thiểu, lượng bỉ lai xứ
Nghĩa là: Khi ăn, phải tư duy, nghĩ đến công lao của những người đã góp phần tạo nên bữa cơm này.
Ví dụ: Người nông phu đã vất vả, một nắng hai sương bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, gió mưa bão tố,... mới làm ra được hạt thóc, hạt gạo. Người nấu bếp cũng rất vất vả. Ngày hè nóng bức vẫn phải đứng bên bếp lửa; ngày đông rét buốt vẫn phải nhúng tay vào nước lạnh để rửa thực phẩm, nấu nướng, bày biện từng món ăn.
Tư duy sâu sắc như vậy, ta sẽ nhận ra: Một hạt gạo nhỏ bé là kết tinh của bao nhân duyên - từ giọt mồ hôi, nước mắt của người nông phu, sức lực của con trâu đi cày, công sức của người thợ lái máy đến nắng, mưa của đất trời,... Khi ăn phải quán xét, suy nghĩ như vậy thì sẽ không xem thường hay ăn một cách hồ đồ.
Một món ăn đều là kết tinh của rất nhiều nhân duyên nên khi ăn phải quán xét đến những công lao đó
2. Thổn kỷ đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng
Nghĩa là: Tự xét đức hạnh, đạo đức của mình đã tròn đầy hay thiếu khuyết, tiến bộ hơn chưa? Có xứng đáng thọ nhận hạt gạo, chén cơm này không? Nếu thấy chưa xứng đáng thì phải biết hổ thẹn và phát nguyện cố gắng tu tập tinh tấn hơn.
Không nên cắm đầu cắm cổ ăn mà phải nghĩ: Ăn thức ăn này để tu hành, không phải để cho thân béo tốt - ăn no rồi đi chơi, ngắm cảnh hay làm đẹp thân thể. Ăn cơm từ mồ hôi, nước mắt của đàn na tín thí phải lo làm cho vẹn toàn đức hạnh, giữ vững lý tưởng, ý chí.
Khi ăn phải tự xét đức hạnh của mình để cố gắng tinh tấn tu tập sao cho xứng đáng với sự cúng dường
3. Phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tôn
Nghĩa là: Khi ăn, phải giữ tâm, không để tham - sân - si chi phối. Hạt giống tham - sân - si có thể trổ ra bất kỳ lúc nào, ngay cả khi ăn: Thấy thức ăn ngon thì sinh tâm tham; thức ăn dở thì sinh tâm sân, buồn giận, càu nhàu, khó chịu; còn ăn không có chính niệm tỉnh giác, như Trư Bát Giới chỉ biết ăn là si.
Khi ăn, chúng ta thường bị tham - sân - si chi phối. Và cũng chính tâm tham đó sinh ra tội lỗi như: ăn óc khỉ, ăn con cá còn sống, sát hại chúng sinh để ăn vì tham vị,...
Cho nên, Phật dạy trong khi ăn, để đề phòng các tâm này, cần phải tỉnh giác - ngay lúc đó chính tâm, bình tĩnh xem lại để biết những tập khí của mình. Vẫn nhận biết mùi vị của món ăn nhưng không để khởi tâm tham, không vì món ngon mà ăn hết phần của người khác, ăn no quá khiến sinh bệnh.
Khất thực bằng bình bát giúp chư Tăng trừ bỏ tham vị
4. Chính sự lương dược, vị liệu hình khô
Nghĩa là: Coi thức ăn như thuốc uống để trị bệnh đói khát của cơ thể, không phải để béo hay làm đẹp hình thể. Khi đó, chúng ta sẽ không khởi tâm tham vì không ai tham hay thích uống thuốc. Từ đó, ăn chỉ để có năng lượng, dinh dưỡng cho cơ thể có sức khỏe làm việc, sống và tu hành.
5. Vị thành đạo nghiệp, ưng thọ thử thực
Nghĩa là: Ăn để tu tập, thành tựu đạo nghiệp, không phải chỉ để no bụng. Người tu khi thọ thực thì nguyện xin tất cả những năng lượng do thức ăn này đem lại biến thành năng lượng của sự tu tập, làm lợi ích cho mình và cho người.
Ý nghĩa của tam đề ngũ quán
Nếu trong mỗi bữa ăn, thực hành đầy đủ tam đề ngũ quán (3 lời nguyện, 5 phép quán) như trên thì bữa ăn có ý nghĩa rất lớn. Đó là một sự tu tập rất tinh tấn. Vì thế, trong nhà thiền có câu:
“Ngũ quán nhược tồn, thiên kim dị hóa
Tam tâm vị liễu, trích thủy nan tiêu.”
Nghĩa là chư Tăng khi ăn tư duy 5 phép quán này thì món ăn giá trị ngàn vàng cũng tiêu hóa được, ngược lại, một giọt nước cũng khó tiêu. Qua đó cho thấy, việc ăn của một tu sĩ Phật giáo, một Tỳ-kheo, bậc Thánh là trong chính niệm, tỉnh giác, chí nguyện Bồ đề, không phải ăn cho no.
Bên cạnh đó, một bữa thọ trai đúng Pháp như vậy được rất nhiều công đức: Vừa biết ơn; vừa biết xét đức hạnh bản thân; biết trừ tham, sân, si; biết đủ; biết tinh tấn; vừa phát nguyện độ sinh. Ăn như vậy mới có ý nghĩa, hình thành đức hạnh của người tu hành.
Không chỉ người xuất gia, Phật tử tại gia cũng nên thực tập tam đề ngũ quán khi ăn uống. Bên cạnh đó, các Phật tử có thể hướng dẫn cho các con cháu thực hành khi ăn cơm. Điều đó khiến việc ăn cơm có giá trị hơn rất nhiều.
Trên đây là những chia sẻ của Thầy Thích Trúc Thái Minh về 3 lời nguyện và 5 phép quán chư Tăng thực hành trước và trong mỗi khi dùng bữa. Điều này không chỉ dành cho người xuất gia mà còn là bài học sâu sắc cho mỗi chúng ta khi sống giữa đời thường.
Hy vọng bài viết này giúp bạn hiểu rõ hơn về ý nghĩa của tam đề ngũ quán và từ đó, có thể ứng dụng những điều tốt đẹp ấy vào chính bữa cơm hằng ngày của mình với lòng biết ơn và sự tỉnh thức, để được hạnh phúc, an vui.
Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tìm hiểu thêm các thông tin khác về đời sống và sự tu hành của chư Tăng trong chuyên mục Xuất gia - Hạnh đầu đà. Hoặc nếu còn điều gì thắc mắc, quý độc giả có thể để lại bình luận dưới bài viết, gửi về chuyên mục hỏi đáp hoặc liên hệ tại đây. Kính chúc quý vị mạnh khỏe, an lạc!











