Bát Kỉnh Pháp Ni giới: Nhân duyên thành tựu Thánh quả cho người nữ
Mục Lục [Ẩn]
- Bát Kỉnh Pháp là gì?
- Nhân duyên Đức Phật chế định Bát Kỉnh Pháp - lòng từ bi bình đẳng dành cho người nữ
- 3 lợi ích khi người nữ xuất gia thực hành Bát Kỉnh Pháp
- 1. Giữ gìn giáo Pháp không bị tổn giảm 5000 năm
- 2. Giúp người nữ diệt trừ tâm kiêu mạn và chấp trước
- 3. Giúp người nữ có nhân duyên thành tựu Thánh quả
Bát Kỉnh Pháp là 8 điều thể hiện sự cung kính của Tỳ-kheo Ni phải thực hành đối với Tỳ-kheo Tăng. Nếu nữ giới xuất gia mà không thực hành 8 điều này thì được xem là xuất gia phi pháp, không được Đức Phật đồng ý. Nhiều người hiểu nhầm rằng, đây là sự hạn chế hay bất bình đẳng dành cho nữ giới. Tuy nhiên, trên thực tế, Đức Phật chế định Bát Kỉnh Pháp là để giữ gìn giáo Pháp không bị tổn giảm khi cho nữ giới xuất gia, đồng thời giúp người nữ diệt trừ tâm kiêu mạn, chấp trước và có nhân duyên thành tựu Thánh quả giải thoát.
Bài viết này sẽ giúp quý vị hiểu đúng về Bát Kỉnh Pháp, thấy được ý nghĩa thiết thực và lòng từ bi của Đức Phật dành cho Ni giới. Kính mời quý vị cùng đón đọc!
Bát Kỉnh Pháp là gì?
Bát Kỉnh Pháp hay Bát Kính Pháp (8 Pháp tôn sư) là 8 điều cung kính mà Tỳ-kheo Ni phải thực hành đối với Tỳ-kheo Tăng và họ cần tôn kính 8 điều này như thầy của mình. Trong kinh Cù Đàm Di, Đức Phật dạy rõ về 8 điều này gồm:
1. Tỳ-kheo Ni phải cầu thọ giới Cụ túc nơi Tỳ-kheo: Tức là người nữ xuất gia phải đến cầu chư Tăng thọ giới cho mình.
Tỳ-kheo Ni phải cầu thọ giới Cụ túc nơi Tỳ-kheo (Ảnh minh họa)
2. Tỳ-kheo Ni cứ mỗi nửa tháng phải đến thọ giáo nơi Tỳ-kheo: Nếu là một Tỳ kheo Ni xuất gia ở nơi Ni chúng (thiền viện/chùa Ni) thì nửa tháng phải đến cầu thỉnh chư Tăng giảng dạy một lần.
3. Nếu nơi trụ xứ không có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni không được thọ hạ an cư: Chư Ni chỉ được an cư ở nơi có chư Tăng an cư. Nếu là chùa Ni, phải thỉnh các chư Tăng đến an cư thì mới được an cư.
4. Tỳ-kheo Ni sau khi thọ hạ an cư phải đối trước hai bộ chúng thỉnh cầu chỉ rõ về ba sự kiện: thấy, nghe và nghi
Tức là từ khi nhận Pháp an cư cho đến lúc mãn hạ, người Tỳ-kheo Ni phải đối trước hai bộ chúng (đại chúng Tăng và đại chúng Ni) bạch về ba sự kiện:
- Thấy: Biết được về điều gì thì gọi là thấy, phải hỏi xem sự thấy đó có đúng không?
- Nghe: Bạch những điều được nghe học (không phải từ Thầy dạy) lên chư Tăng để kiểm chứng sự đúng đắn.
- Nghi: Giải trình những chỗ còn nghi về Phật, Pháp, Tăng; nghi về chúng và về mình.
5. Nếu Tỳ-kheo không cho phép Tỳ-kheo Ni thưa hỏi thì Tỳ-kheo Ni không được thưa hỏi Tỳ-kheo về Kinh Luật hoặc A-tỳ-đàm, nếu cho phép thì Tỳ-kheo Ni mới được thưa hỏi: Tức là khi Tỳ-kheo Ni thưa thỉnh, hỏi về Kinh Luật hoặc A-tỳ-đàm mà Tỳ-kheo Tăng không đồng ý trả lời thì không được hỏi. Ngược lại, nếu Tỳ-kheo Tăng đồng ý trả lời thì mới được hỏi.
6. Tỳ-kheo Ni không được nói điều trái phạm của Tỳ-kheo, nhưng Tỳ-kheo được quyền nói điều trái phạm của Tỳ-kheo Ni: Tức là khi Tỳ-kheo Tăng có lỗi thì Tỳ-kheo Ni không được nhắc đến lỗi của vị ấy. Nhưng Tỳ-kheo Tăng được quyền nhắc lỗi của Tỳ-kheo Ni. Sở dĩ Đức Phật chế định điều luật này là vì:
Nếu Tỳ-kheo Ni nói lỗi của Tỳ-kheo Tăng thì do nhắc nhiều mà sẽ nhớ đến nhiều, sinh lòng ái nhiễm. Thực tế, có nhiều cô gái lúc đầu rất ghét người nam này nhưng về sau lại yêu rất mãnh liệt. Điều này là do tần suất nhớ và để ý người ấy nhiều cho nên sẽ nghe được những điều tốt đẹp của họ, từ đó sinh yêu. Đức Phật là bậc toàn giác, Ngài biết điều đó nên mới chế định điều luật này.
Còn Tỳ-kheo Tăng được nhắc lỗi Tỳ-kheo Ni vì nhìn thấy một điều xấu sẽ thấy nhiều điều khác, nhờ vậy mà chư Tăng sẽ không muốn gần người nữ.
7. Tỳ-kheo Ni nếu phạm Tăng-già-bà-thi-sa thì phải đối trước hai bộ chúng hành bất mạn trong vòng mười lăm ngày: Nếu Tỳ-kheo Ni phạm lỗi Tăng-già-bà-thi-sa thì phải đối trước hai bộ chúng (chư Tăng và chư Ni) hành bất mạn trong 15 ngày để tu tập, xả được lỗi đó đi.
8. Tỳ-kheo Ni dù đã thọ giới Cụ túc lâu đến một trăm năm, nhưng đối với Tỳ-kheo mới thọ giới Cụ túc vẫn phải khiêm cung cúi đầu làm lễ, cung kính chắp tay thưa hỏi: Điều này không bao gồm những bậc Thánh Ni, chỉ đề cập đến các vị Tỳ-kheo Ni thọ Cụ túc giới vì người đắc Thánh quả thì đã rất khéo léo trong hành xử và thực hành đầy đủ Bát Kỉnh Pháp.
Tỳ-kheo Ni dù đã thọ giới Cụ túc lâu đến một trăm năm, vẫn phải khiêm cung cúi đầu làm lễ, cung kính chắp tay thưa hỏi Tỳ-kheo mới thọ giới Cụ túc (Ảnh minh họa)
Nhân duyên Đức Phật chế định Bát Kỉnh Pháp - lòng từ bi bình đẳng dành cho người nữ
Nhân duyên Đức Phật chế định 8 Pháp tôn sư là từ sự kiện Ngài cho phép di mẫu Kiều Đàm Di và 500 cung nữ xuất gia - đánh dấu sự thành lập Ni đoàn. Sự kiện được ghi lại như sau:
Khoảng 3 năm sau khi đắc đạo, Đức Phật trở về hoàng cung, thuyết Pháp độ cho hoàng tộc. Khi ấy, nhờ nghe Pháp của Phật mà di mẫu Kiều Đàm Di chứng đắc sơ quả Tu Đà Hoàn và mong mỏi được đi xuất gia. Sau đó, bà thỉnh cầu Đức Phật cho xuất gia 3 lần nhưng Ngài đều không đồng ý.
Dẫu vậy, di mẫu vẫn không bỏ cuộc, bà tìm gặp Tôn giả A Nan và Tôn giả Ca Lưu Đà Di để hỏi về oai nghi, cách thức mặc y, mang bát, trì bình khất thực; cách đi, đứng, nói năng, ngủ nghỉ của một vị Tỳ-kheo. Sau đó, bà tập hợp 500 người nữ dòng họ Thích có cùng ý nguyện, cạo tóc, đi chân đất, rời thành Ca Tỳ La Vệ theo Đức Phật và Tăng đoàn đến thành Tỳ Xá Ly (Vesāli).
Di mẫu Kiều Đàm Di cùng 500 người nữ dòng họ Thích cạo tóc, đi chân đất, theo Đức Phật đến thành Tỳ Xá Ly (Ảnh minh họa)
Chứng kiến lệnh bà tha thiết như vậy, Tôn giả A Nan liền đến đảnh lễ Đức Phật và thỉnh cầu Ngài cho lệnh bà cùng các cung nữ xuất gia.
Thế nhưng, khi Tôn giả bạch thỉnh Đức Phật ba lần, Ngài đều từ chối. Trong kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, Đức Phật dạy A Nan: “Không phải ta không biết đến thâm ân của di mẫu đối với ta, nhưng ta không muốn cho nữ nhân dự vào Phật Pháp. Nếu ta cho nữ nhân ở trong Phật Pháp, thì sau năm trăm năm, chính Pháp của ta sẽ suy đồi. Bởi thế mà ta không muốn để cho nữ nhân dự vào Phật Pháp”.
Khi cho người nữ xuất gia, không chỉ chính Pháp bị suy đồi sau 500 năm mà giáo Pháp của Như Lai tồn tại 10.000 năm cũng giảm một nửa, chỉ còn 5000 năm.
Tuy nhiên sau nhiều ngày suy nghĩ đến quán căn duyên, hướng tâm đến thời gian tồn tại của chính Pháp từ chư Tôn Chánh Đẳng Giác quá khứ, Như Lai đã khởi tâm quyết định phát triển giáo hội Tỳ-kheo Ni - đồng ý cho nữ nhân được xuất gia với điều kiện phụng trì suốt đời Bát Kỉnh Pháp. Sau đó, Đức Phật thuyết về 8 Pháp tôn sư này cho Tôn giả A Nan. Ngài khéo léo nhận lãnh, ghi nhớ rồi truyền lại cho di mẫu Kiều Đàm Di và các thể nữ để họ được xuất gia. Trong kinh Cù Đàm Di, Đức Phật dạy: “Nếu Cù-đàm-di Đại Ái Đạo phụng trì tám Pháp tôn sư này thì được ở trong Pháp Luật chân chánh mà xuất gia học đạo, được thọ giới Cụ túc, làm Tỳ-kheo Ni”.
Để nữ nhân được xuất gia, Đức Phật đã tuyên bố Bát Kỉnh Pháp cho họ phụng trì suốt đời (Ảnh minh họa)
Như vậy, Đức Phật là người đầu tiên ở thời đó cho nữ giới đi tu. Đây là một cuộc “cách mạng” rất lớn trong xã hội Ấn Độ bấy giờ. Vì thời đó, tư tưởng trọng nam khinh nữ rất nặng; tất cả các đạo giáo Ấn Độ đều xem thường nữ giới, không cho phép người nữ đi tu.
Đức Phật là đấng toàn giác nên Ngài thấy được những phẩm tính của người nữ và cũng biết rất rõ những nghiệp, khuyết điểm của họ. Cho nên Ngài đã chế định Bát Kỉnh Pháp giúp người nữ tu hành, diệt trừ những khuyết điểm để có thể chứng đắc Thánh quả. Đó là tâm đại bi không phân biệt của Ngài, tất cả các phương tiện đều làm lợi ích chúng sinh.
3 lợi ích khi người nữ xuất gia thực hành Bát Kỉnh Pháp
1. Giữ gìn giáo Pháp không bị tổn giảm 5000 năm
Trong kinh Cù Đàm Di, Đức Phật dạy: “Ví như người thợ đánh cá và đệ tử của người thợ đánh cá đắp đập ở khoảng nước sâu để giữ nước, không cho chảy ra ngoài; cũng vậy, này A-nan, nay Ta vì nữ nhân mà tuyên bố tám Pháp tôn sư, nữ nhân không được trái phạm, nữ nhân phải phụng trì suốt đời.”
Đức Phật là Thầy và người nữ muốn làm học trò, vào trong pháp luật thì phải thực hành Bát Kỉnh Pháp, tức là phải theo Thầy mà làm mới giữ được giáo Pháp không bị tổn giảm 5000 năm.
2. Giúp người nữ diệt trừ tâm kiêu mạn và chấp trước
Trong kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, phẩm Từ Bi Thứ Bảy nói đến lý do Đức Phật không cho người nữ đi xuất gia. Đó là phụ nữ phần nhiều hay có tính ngờ vực, chấp trước, không có lòng hỷ xả, kiêu ngạo. Bát Kỉnh Pháp giúp diệt trừ tâm kiêu mạn và chấp trước của Ni giới.
3. Giúp người nữ có nhân duyên thành tựu Thánh quả
Trong kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân có nói đến việc thân người nữ “không thể đạt đến đạo quả Vô Thượng Bồ Đề, không thể có được ba mươi hai tướng tốt. Trong đường sinh tử, không được làm Chuyển Luân Thánh Vương, dùng phép Thập thiện, giáo hóa chúng sinh; cũng không thể đạt đến ngôi Phạm Vương cùng tột, không thể kiến lập Chánh Pháp và khuyến thỉnh chư Phật chuyển bánh xe Pháp để cho hết thảy chúng sinh được lợi lạc".
Nhưng người nam có thể tích lũy phước báo, hành các Ba La Mật ngay trong kiếp này, chứng đắc Chánh Đẳng Giác. Và trong nhân duyên của thân tướng người nam, họ có thể làm được Thiên Đế Thích, Chuyển Luân Thánh Vương, Ma Vương, Đại Phạm Thiên còn thân tướng người nữ thì không làm được. Vì vậy, phải có Bát Kỉnh Pháp (8 Pháp cung kính đối với vị Tỳ-kheo Tăng) thì người nữ mới có thể thành Thánh quả. Ngược lại, nếu không có 8 Pháp này, không tôn trọng 8 Pháp như bậc thầy thì sẽ coi thường chư Tăng, không thể gột rửa các bất thiện tâm để trở thành bậc A-la-hán.
Bát Kỉnh Pháp giúp người nữ có nhân duyên thành tựu Thánh quả (Ảnh minh họa)
Trên đây là những chia sẻ của Thầy Thích Trúc Thái Minh về Bát Kỉnh Pháp. Hy vọng rằng, qua bài viết, quý vị sẽ hiểu rõ hơn về những điều kiện để người nữ được đi xuất gia, đồng thời thêm tôn kính lòng từ bi vô lượng của Đức Thế Tôn, từ đó tăng trưởng phúc lành, được hạnh phúc, an vui trong cuộc sống. Còn đối với những người nữ có mong muốn xuất gia thì biết chuẩn bị cho mình con đường tu tập đúng lời Phật dạy.
Ngoài ra, quý độc giả có thể tìm hiểu thêm về việc xuất gia tu tập tại chuyên mục Xuất gia. Nếu còn điều gì thắc mắc, quý vị có thể bình luận tại bài viết, gửi về chuyên mục Hỏi - đáp hoặc liên hệ tại đây để được giải đáp. Kính chúc quý vị mạnh khỏe, an lạc.











