Ngài Đại Ca Diếp: Cuộc đời phạm hạnh và trọng trách kết tập kinh điển
Mục Lục [Ẩn]
Ca Diếp (Tôn giả Ma Ha Ca Diếp hay Đại Ca Diếp), thế danh là Tất Bát La Da Na, là một trong 10 vị đại đệ tử của Đức Phật. Sinh ra trong một gia đình Bà La Môn giàu có, thân tướng đẹp đẽ, thông minh trí tuệ, tinh thông mọi pháp thế gian nhưng Ngài không mê đắm dục lạc trần gian.
Ngay cả khi bị ép lấy vợ, Ngài và người bạn đời sống phạm hạnh, không xúc chạm lẫn nhau và cả hai đều hướng đến mong nguyện đi xuất gia. Sau khi báo hiếu cha mẹ, cả hai phát nguyện đi tu, bỏ lại tất cả không luyến tiếc. Ngài Ca Diếp gặp Đức Phật xin xuất gia, phát nguyện thực hành khổ hạnh và trở thành vị đệ tử đầu đà đệ nhất. Và Ngài cũng chính là người chủ trì cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất.
Xin mời các bạn cùng tìm hiểu cuộc đời phạm hạnh của Tôn giả Đại Ca Diếp qua bài viết dưới đây.
Tôn giả Đại Ca Diếp: Xuất thân cao quý nhưng không đắm nhiễm dục lạc
Tất Bát La Da Na (sau này là Tôn giả Đại Ca Diếp) là con của một gia đình dòng Bà La Môn hết sức giàu có ở thành Vương Xá, nước Ma Kiệt Đà (ngày nay là phía Nam xứ Bihar - một bang ở miền Đông Ấn Độ). Ngài sinh ra dung mạo đoan chánh, khôi ngô, đẹp đẽ, ai cũng thích trông ngắm, thế gian không ai sánh bằng.
Khi vừa tròn 8 tuổi, Ngài được thọ giới pháp Bà La Môn. Ngài được học đủ mọi kiến thức, Ngài là người giỏi toàn diện, từ tâm linh đến tất cả kiến thức thế gian.
Trong kinh Phật Bản Hạnh Tập, quyển 45, phẩm 47: Nhân duyên của Đại Ca Diếp (phần 1), có viết:
“Sau khi đồng tử thọ giới pháp rồi, cha mẹ lại phú chúc gia nghiệp và dạy các nghề, pháp thức tế tự, cùng dạy đồng tử các môn thơ phú, toán số, hội họa, khắc ấn, bốn bộ Vi-đà cùng các pháp thọ ký, biện luận thế gian, thọ trì các pháp binh trượng, các pháp đại chú thuật, luận Xiển-đà, các môn văn chứng, ngũ hành, tinh tú, toán số, âm dương, đoán trước thời vận trong mỗi ngày đêm có bao nhiêu điềm tốt xấu. Lại nữa, đồng tử biết tất cả các loại tiếng: Tiếng tướng đất chuyển động, tiếng sấm, tiếng sét, tiếng kêu của loài cầm thú, tiếng động của loài chim bay, thú chạy. Biết hết các tướng trạng, biết tất cả các sự chuyển biến, biết coi các tướng, biết tướng nghề nghiệp, biết tướng nam nữ, biết tướng lục súc, biết pháp tẩy tịnh thanh tịnh, biết pháp lấy nước, biết pháp xối rửa, biết pháp lấy tro, biết cách xướng ca chúc tụng, biết tướng tốt xấu, thịnh suy, biết cách giải trừ tai ương, biết pháp cúng tế thần lửa và chư Thiên đại nhân…, tất cả đều được hoàn bị.
Đồng tử tự học rồi lại có khả năng dạy lại người khác. Đồng tử học pháp khi tiếp nhận vật của người hay ban vật cho người. Mọi việc trong thế gian không gì là không rõ, không nơi nào là không biết, lanh lợi, sáng suốt, trí tuệ thông minh, có tài lý luận đanh thép, căn tánh nhạy bén khôn ngoan.”
Thế nhưng, Ngài bản tánh chất trực, thường nhàm chán việc thế gian, nhận thức ái dục đều là bất tịnh (khổ đau, không tốt đẹp, không hạnh phúc) nên sinh tâm nhàm lìa.
Tình duyên phạm hạnh của Tôn giả Ma Ha Ca Diếp
Cha mẹ của Tất Bát La Da Na mong muốn Ngài sớm thành hôn để nối nghiệp gia đình nhưng khi cha mẹ nhắc đến việc đó Ngài đã thưa cha mẹ: “Kính thưa song thân, con nay không cần việc tiếp nối sự nghiệp ở đời, cũng không cần kế tục đời sau. Con chỉ cần tu phạm hạnh.”
Bị cha mẹ ép buộc, Tất Bát La Da Na đã đưa ra tiêu chuẩn chọn vợ rất khắt khe. Ngài tạc ra bức chân dung người phụ nữ thật đẹp để làm khó thân mẫu, nhưng cha mẹ vẫn tìm được cô gái đáp ứng được tiêu chuẩn đó và bắt Ngài phải thành thân với nàng. Cô gái ấy là Bạt Đà La, con gái của một gia đình Bà La Môn ở thôn Ca-la-tỳ-ca. Một điều trùng hợp kỳ lạ, nàng Bạt Đà La cùng chung tâm nguyện muốn sống cuộc đời phạm hạnh, được đi xuất gia như Tất Bát La Da Na.
Hai vợ chồng hòa thuận, thay nhau chăm lo mọi việc trong ngoài. Thì giờ rảnh rỗi, hai người nghiên cứu thêm triết đạo học, thảo luận với nhau những điểm khúc mắc về các tư tưởng tôn giáo.
Hai người lấy nhau, ở chung phòng nhưng đều thúc liễm thân tâm, không xúc chạm thân thể, không ngủ chung với nhau. Đêm đến, một người ngủ thì người kia đi kinh hành và ngược lại.
Hai người đã ở với nhau 12 năm phụng dưỡng cha mẹ nhưng hoàn toàn trong sạch, không chút ái luyến, không chút vẩn đục. Điều đó là một việc khó khi hai người sống chung một nhà, đang lúc còn trẻ trung, sống với nhau vẫn giữ gìn sự trong sạch, phạm hạnh.
Sau khi lo báo hiếu cha mẹ xong, Tất Bát La Da Na và vợ đã cùng nhau phát nguyện bỏ lại hết tất cả tài sản để đi xuất gia.
Ngài Đại Ca Diếp: Vị Thánh đệ tử đầu đà đệ nhất của Đức Phật
Tấm gương về hạnh đầu đà cho thế hệ sau
Tất Bát La Da Na tạm biệt nàng Bạt Đà La lên đường xuất gia tìm thầy học đạo và hứa khi tìm được bậc minh sư sẽ báo tin cho nàng biết. Vào một buổi sáng khi mặt trời vừa ló rạng, Đức Thế Tôn chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng chính lúc ấy, Ngài Đại Ca Diếp tìm lối xuất gia.
Sau khi xuất gia, Ngài theo thứ lớp du hành khắp nơi. Một hôm, đến thành Vương Xá, khi đi khất thực, Ngài bỗng nhiên gặp được Đức Phật đang ngồi thiền; Ngài vui mừng, rạng rỡ, tâm liền thanh tịnh, không còn nghi ngờ. Ngài đảnh lễ, quỳ gối xin được làm đệ tử của Đức Phật, phát nguyện thực hành khổ hạnh.
Sau khi đi xuất gia, Tôn giả Đại Ca Diếp ngày đêm tinh tấn thực hành hạnh đầu đà. Không lâu sau, Ngài chứng đắc quả A La Hán (quả vị cao nhất trong tứ Thánh quả) với danh hiệu đệ nhất đầu đà.
Sau này, Ngài Đại Ca Diếp tìm phương tiện giáo hóa nàng Bạt Đà La quy y Phật, vào hàng Tỳ kheo Ni. Không lâu sau, nàng chứng đắc quả A La Hán, trở thành Tỳ kheo Ni có Túc mạng thông bậc nhất bên Ni chúng.
Ngài Đại Ca Diếp là người thực hành đầy đủ 13 Pháp hạnh đầu đà trọn đời. Trong kinh Tăng Nhất A-Hàm - Tập 1, XII. Phẩm Nhập Đạo, bài kinh số 6, có viết:
“Thế Tôn dạy rằng:
- Ca Diếp! Nay Thầy đã lớn tuổi, già cả, quá suy, lọm khọm, vậy Thầy nên bỏ hạnh khất thực, cho đến các hạnh đầu đà, mà nên nhận lời mời của các trưởng giả và nhận y áo.
Ca Diếp đáp:
- Con không dám theo lời Như Lai dạy. Vì sao? Vì nếu Như Lai không thành đạo Vô thượng Chánh chân, thì con ắt thành Bích Chi Phật, mà Bích Chi Phật trọn hành A-lan-nhã. Đến giờ khất thực, con không phân biệt giàu, nghèo. Con ở một nơi, ngồi một chỗ hoặc ngồi dưới gốc cây, hoặc ngoài đồng trống, hoặc chỗ vắng vẻ trọn chẳng dời đổi, hoặc mặc áo năm mảnh, hoặc giữ ba y, hoặc ở gò mả, hoặc ăn một bữa, hoặc ăn đúng ngọ, hoặc hành đầu đà. Nay con chẳng dám bỏ thói cũ mà học hạnh khác.
Thế Tôn bảo rằng:
- Lành thay! Lành thay, Ca Diếp! Thầy có nhiều lợi ích, độ người vô lượng, rộng đến tất cả Trời, Người đều được độ. Vì sao? Ca Diếp! Nếu hạnh đầu đà này được ở đời thì Pháp của Ta cũng sẽ được lâu dài ở đời. Nếu có Pháp ở đời, thì thiên đạo tăng thêm, ba đường ác liền giảm. Cũng vậy, thánh Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, đạo Tam thừa đều còn ở đời. Này các Tỳ-kheo, hãy học như Ca Diếp tu tập.
Như vậy, các Tỳ-kheo, nên học điều này.”
Tôn giả Đại Ca Diếp - Vị đệ tử đầu đà đệ nhất của Đức Phật (ảnh minh họa)
Ngài Ca Diếp là người chủ trì kết tập kinh điển lần thứ nhất
Trong Pháp hội truyền thừa trước khi Đức Phật nhập Niết bàn, tất cả đại chúng A La Hán hội tụ, Đức Phật giơ một bông hoa sen lên và mỉm cười (sự kiện Niêm hoa vi tiếu). Trong đại chúng chỉ có một mình Ngài Ca Diếp lãnh hội. Các vị A La Hán đều hiểu việc lãnh hội ngụ ý của Đức Phật là bổn phận của Ngài Đại Ca Diếp - vị đệ nhất đầu đà và có đủ nhân duyên để kết tập kinh điển.
Đây cũng là nhân duyên để chúng sinh sau này biết phương pháp tu của mình. Đức Phật có 10 vị đại đệ tử, mỗi vị tu theo một Pháp khác nhau: trì giới, thuyết Pháp, đa văn, thực hành nhẫn nhục Ba-la-mật,... nhưng thời mạt Pháp chúng sinh tham dục, chỉ duy nhất hành trì đầu đà mới có thể đoạn dục. Cho nên, Pháp đầu đà mà Ngài Ca Diếp tu mới là Pháp tu cho chúng sinh sau này.
Ngài Đại Ca Diếp lãnh hội ý của Phật khi Đức Phật giơ một bông hoa sen lên (ảnh minh họa)
Khi Đức Phật nhập Niết bàn, Ngài có ý phải đầy đủ nhân duyên đợi Ngài Ca Diếp trở về. Khi ấy, toàn thể dân chúng làm lễ trà tỳ (hỏa thiêu) kim thân của Đức Phật, nhưng giàn thiêu không thể cháy được.
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn có viết: “... Mọi người vừa khóc lóc lệ đầy mắt, đều cầm đuốc hương lớn cả ôm, cháy sáng cả vùng, đem đến châm vào lầu gỗ thơm. Khi đến gần lầu gỗ thơm, tất cả ngọn đuốc đều tự nhiên tắt. Đại chúng lại thay vô số đuốc khác ném vào dưới lầu hương, tất cả ngọn đuốc cũng đều tắt.
Trăm ngàn Hải Thần đem đuốc lớn thất bảo đến châm vào lầu hương, những đuốc nầy cũng đều tắt.”
Lúc đó, Ngài Đại Ca Diếp đang đi giáo hóa phương xa, bỗng thấy tâm trí bàng hoàng, quán biết rằng Đức Phật đã nhập Niết bàn nên quay về thành Câu Thi Na.
Khi Ngài Đại Ca Diếp về đến nơi, đảnh lễ Đức Phật, nhiễu quanh Phật 3 vòng và quỳ dưới chân Phật, bỗng nhiên một chân của Đức Phật từ trong kim quan, qua nhiều lớp vải, bạc, lưu ly,... đưa ra ngoài, chạm vào đầu Ngài Đại Ca Diếp rồi từ từ rút lại vào trong kim quan. Sau đó, Ngài Đại Ca Diếp vừa đánh lửa thì toàn bộ giàn hỏa bùng cháy.
Cho nên, từ những sự kiện trên, chúng ta hiểu rằng, Ngài Đại Ca Diếp là một bậc tu hành rất đặc biệt và nhân duyên truyền thừa Phật Pháp là nhân duyên từ Ngài - hiện thân của Pháp đầu đà. Pháp đầu đà nằm trên tất cả các Pháp, tổng hợp các Pháp, lưu truyền các Pháp.
Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn 100 ngày, Ngài Đại Ca Diếp cho tập hợp tất cả chúng Tỳ-kheo đã chứng quả A La Hán, kết tập kinh điển trong một hang động. Nhờ đó, lời dạy của Đức Phật được kết tập thành hệ thống và chính thức được lưu truyền dưới các hình thức truyền tụng, ghi chép thành văn kinh trên lá, giấy,… cho đến ngày nay.
Tôn giả Đại Ca Diếp làm chủ trì kết tập kinh điển lần thứ nhất (ảnh minh họa)
Trên đây là những chia sẻ của Thầy Thích Trúc Thái Minh về cuộc đời tu hành của Tôn giả Đại Ca Diếp. Qua đó, chúng ta thấy được cuộc đời Ngài sáng ngời sự phạm hạnh từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành và xuất gia tu đạo. Đặc biệt, Tôn giả Ca Diếp trọn đời tu khổ hạnh trở thành vị đệ tử đầu đà đệ nhất làm lợi ích cho chúng sinh và là người mở đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất.
Quý bạn đọc có thể tìm hiểu thêm các vấn đề khác liên quan đến hạnh đầu đà tại chuyên mục Hạnh đầu đà. Hoặc nếu có các thắc mắc, vui lòng bình luận tại bài viết, gửi về chuyên mục hỏi đáp hoặc liên hệ tại đây để được giải đáp. Kính chúc quý vị mạnh khỏe, an lạc!










