Quý Phật tử và các bạn nếu muốn in thì tải tại đây: Khóa lễ Sáng – Tối cho Phật tử tu tập tại nhà hồi hướng cầu nguyện hoá giải, tiêu trừ đại dịch Covid-19 và nạn hạn hán

KHÓA SÁNG:

NGUYỆN HƯƠNG
(Cắm hương xong, chắp tay đọc)

Nguyện đem lòng thành kính,
Gửi theo đám mây hương,
Phảng phất khắp mười phương,
Cúng dường ngôi Tam Bảo.
Thề trọn đời giữ đạo,
Theo tự tính làm lành,
Cùng pháp giới chúng sinh,
Cầu Phật từ gia hộ.
Tâm Bồ đề kiên cố,
Chí tu đạo vững bền,
Xa biển khổ nguồn mê,
Chóng quay về bờ giác.
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ tát Ma Ha Tát. (3 lần) (3 tiếng chuông) 

VĂN KHẤN
(Quỳ gối, chắp tay đọc)

Nam mô thập phương pháp giới thường trụ Tam Bảo tác đại chứng minh!
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
Đệ tử con tên là: ……… Pháp danh: ……… đại diện cho toàn thể gia đình hiện đang ở tại: ………
Hôm nay là ngày… tháng… năm… Nhân duyên hiện nay dịch bệnh Covid-19 đã lan tràn khắp cả thế giới mà chưa tìm ra thuốc để chữa trị. Trên đất nước Việt Nam chúng con có nhiều vùng bị hạn hán rất nặng, nhân dân vô cùng thống khổ.
Đệ tử con xin phát tâm Bồ đề và con xin phát nguyện tu tập theo sự chỉ dạy của Sư Phụ: Tụng kinh Tam Bảo, lễ Phật sám hối và làm các việc phước để hộ trì Tam Bảo, nguyện cho chính Pháp của Phật được tuyên dương và hồi hướng cho công cuộc phòng, chống dịch Covid-19 được thành công; nguyện cho các nhà quản lý, các nhà khoa học, các nhân viên y tế và tất cả những ai tham gia công cuộc phòng chống dịch đều được đầy đủ sức khỏe, trí tuệ sáng suốt, chỉ đạo hanh thông, trên dưới đồng lòng, kiểm soát được dịch, sớm đủ duyên lành, tìm ra vắc xin dập tắt dịch bệnh.
Chúng con cũng xin hồi hướng cho tất cả những bệnh nhân Covid-19 có thêm năng lượng tích cực cho việc điều trị bệnh; hồi hướng cho tất cả những bệnh nhân quá vãng sớm được sinh về cảnh giới an lành.
Chúng con cũng xin hồi hướng, nguyện cầu sớm có được mưa tại các vùng khô hạn, thời tiết được thuận hoà, mùa màng tươi tốt, và sớm hoá giải nạn hạn hán.
Chúng con kính xin Tam Bảo chứng minh gia hộ cho lời khẩn nguyện của chúng con.
Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát! (1 lễ) (3 tiếng chuông) 

LỄ TÁN PHẬT
(pháp khí: khánh, chuông)

Đại từ đại bi thương chúng sinh,
Đại hỷ đại xả cứu hàm thức,
Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm.
Chúng con chí tâm thành đảnh lễ. (1 tiếng chuông) 
Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 

XƯNG DƯƠNG NHƯ LAI HIỆU

Nam mô Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. (3 tiếng chuông) 

NHẤT THIẾT CUNG KÍNH NHẤT TÂM KÍNH LỄ

Chí tâm đỉnh lễ: Phật Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương ở cõi Quang Thắng phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Chí tâm đỉnh lễ: Phật Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương ở cõi Diệu Bảo phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Chí tâm đỉnh lễ: Phật Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu ở cõi Viên Mãn Hương Tích phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Chí tâm đỉnh lễ: Phật Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường ở cõi Vô Ưu phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Chí tâm đỉnh lễ: Phật Pháp Hải Lôi Âm ở cõi Pháp Tràng phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Chí tâm đỉnh lễ: Phật Pháp Hải Thắng Tuệ Du Hý Thần Thông ở cõi Thiện Trụ Bảo Hải phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Chí tâm đỉnh lễ: Phật Dược Sư Lưu Ly Quang ở cõi Tịnh Lưu Ly phương Đông, cùng chư Phật ở khắp Pháp giới. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Chí tâm đỉnh lễ: Kinh Bản Nguyện Công Đức của Phật Dược Sư và chú Quán Đỉnh cùng Tôn Pháp ở khắp Pháp giới. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Chí tâm đỉnh lễ: Bồ tát Nhật Quang Biến Chiếu ở cõi Tịnh Lưu Ly phương Đông, cùng chư Bồ tát ở khắp Pháp giới. (1 lễ) (1 tiếng chuông)
Chí tâm đỉnh lễ: Bồ tát Nguyệt Quang Biến Chiếu ở cõi Tịnh Lưu Ly phương Đông, cùng chư Bồ tát ở khắp Pháp giới. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Chí tâm đỉnh lễ: Thánh chúng trong Hải hội Thanh tịnh ở cõi Tịnh Lưu Ly phương Đông, cùng Thánh chúng ở khắp Pháp giới. (1 lễ) (3 tiếng chuông) 

TÁN PHÁP

(pháp khí: chuông, mõ)
Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,
Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.
Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,
Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn. (1 tiếng chuông) 
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần) (3 tiếng chuông) 

KINH TAM BẢO

(Phần dẫn chuyện) 

Một thời Đức Phật an cư ở tại Tinh xá Trúc Lâm cùng với đại chúng Tỳ Kheo. Bấy giờ, qua tháng thứ hai an cư, tại tiểu bang Licchavī đã xảy ra một biến cố. Chuyện là, miền Nam sông Gaṅgā trời đổ mưa liên tục từ ngày này sang ngày khác; nhưng suốt bốn năm tháng nay, phía Bắc lại không có một giọt mưa. Thế là một thảm họa đổ xuống các tiểu bang ở đây, nhất là kinh thành Vesāli: Đất đai nứt nẻ, đồng ruộng, nương vườn khô cháy; mùa màng thất bát, lúa gạo dự trữ không đủ sức cầm hơi, rau cỏ không có mà ăn. Thế là đói khát trầm trọng xảy ra. Đó là nạn thứ nhất.
Vì đói nên người chết rất nhiều, người sống không còn đủ sức mang xác ra nghĩa địa hoặc hỏa thiêu; họ đành phải quăng xác ra ngoại thành, mùi hôi thối tỏa khắp mọi nơi. Ác dạ-xoa lộng hành quậy phá làm khổ dân chúng. Đó là nạn thứ hai.
Vì xác chết, vì hôi thối nên dịch bệnh lan tràn; nhất là bệnh đường ruột, bệnh bao tử, bệnh dịch tả càng làm cho người chết nhiều thêm nữa. Đó là nạn thứ ba!
Các đức vua và hội đồng tướng lĩnh các tiểu bang cộng hòa cấp tốc hội họp, đề cử một viên đại thần, tên là Mahāli – vốn là thân hữu của đức vua Bình Sa – làm trưởng đoàn sứ giả, mang lễ phẩm trọng hậu đến Rājagaha, nhờ đức vua giúp đỡ, trình lên Đức Phật, mong ngài đến tiểu bang Licchavī, kinh thành Vesāli để cứu khổ cho muôn dân. Đức vua không dám nhận hậu tình, bảo rằng đoàn sứ giả nên đến đảnh lễ Đức Phật, dâng lễ phẩm và tường trình mọi sự lên ngài, hiện ngài đang an cư ở Tinh xá Trúc Lâm với đại chúng Tỳ-kheo.
Tôn giả Mục Kiền Liên đứng một bên, sau khi nghe viên đại thần Mahāli trình bày ba thảm nạn tại Vesāli, tôn giả liền khẩn cầu Đức Phật giải họa.
Đức Phật đã sớm biết chuyện này, ngài nói:
– Các ông hãy về đi! Như Lai và hội chúng năm trăm Tỳ-kheo sẽ đến Vesāli trong mấy hôm nữa.
Lúc phái đoàn sứ giả ra về rồi, Đức Phật nói chuyện với vị đại đệ tử:
– Này Mục Kiền Liên! Ba thảm nạn của Vesāli xảy ra là do ba nguyên nhân tương tác lẫn nhau: Thứ nhất là do nắng nóng khô hạn, thứ hai là do ác pháp phát sanh từ các người lãnh đạo, thứ ba là do chư thiên, thiện thần, thiện dạ-xoa bỏ đi. Bây giờ, ông hãy gọi A Nan Đà đến đây.
Sau khi có mặt cả hai vị, Đức Phật nói:
– A Nan Đà có trí nhớ rất tốt, vậy phải học bài kinh uy lực của Tam Bảo mà Như Lai sẽ đọc sau đây, nó có tên là Ratanasutta; sau khi thuộc rồi, ông hãy lựa chọn mấy trăm vị Tỳ-kheo còn trẻ, trí nhớ tốt, tức tốc dạy cho họ học thuộc bài kinh ấy. Còn Mục Kiền Liên thì vào hoàng cung, gặp đức vua Bình Sa, nói với nhà vua nên hỗ trợ cho Vesāli trong lúc đói kém, khoảng chừng một ngàn xe lương thực; và đức vua cũng nên cử quan đại thần và quân đội đích thân vận chuyển; chuẩn bị xong lúc nào là lên đường ngay lúc ấy; cứu đói như cứu lửa – phước báu sẽ rất lớn; và nhờ thế, tâm đức của đức vua sẽ sáng chói và lan rộng khắp cả châu Diêm-phù-đề. Cũng xin với đức vua là cho thầy thuốc Jīvaka, các trợ lý¬ lương y, nhân viên cùng thuốc men đến để trị bệnh.
Đại đức A Nan Đà làm tròn phận sự của mình, có năm trăm Tỳ-kheo cùng học thuộc lòng. Còn đức vua Bình Sa thì sẵn sàng hoan hỷ làm theo lời Đức Phật dạy; và còn hơn thế nữa, do mùa màng đất nước này bội thu, nên nhà vua đã trợ cấp hào sảng hai ngàn xe lương thực để cứu đói. Lại còn rộng lượng cho vay thêm một ngàn tấn lương thực nữa, thời gian trả, không hạn định; lúc nào mùa màng bội thu, phú túc sẽ trả sau.
Thế rồi, Đức Phật cùng mấy chục vị trưởng lão, năm trăm Tỳ-kheo và phái đoàn cứu tế rầm rộ lên đường. Bảy ngày sau, đến sông Gaṅgā, tại thị trấn Pāṭaligama, đức vua đã cho chuẩn bị sẵn năm mươi chiếc thuyền lớn để chở phái đoàn và lương thực. Đang mùa mưa nên nước cuồn cuộn tràn bờ, nhờ thuyền lớn nên xuôi dòng nhẹ nhàng; đến ngã ba sông, đoàn thuyền bỏ sông Gaṅgā, theo nhánh sông Gaṇdak tiến lên phương bắc. Hai bên bờ, đồng khô cỏ cháy trông thật tang thương. Càng đến gần Vesāli chừng nào thì thuyền đi càng chậm vì sông cạn, lại lềnh bềnh tử thi và rác rưởi. Mùi xú uế bốc lên nồng nặc. Ròng rã ba ngày, đoàn thuyền khá gian lao, vất vả mới đến được bến nước giang khẩu vào kinh thành Vesāli.
Khi Đức Phật vừa đặt chân lên bờ đông nước cộng hòa Licchavī thì một trận mưa rất lớn, tối trời tối đất như tự cổng trời mở ra, xối xả đổ xuống vùng đất đại hạn như đã chờ đợi từ lâu lắm.Trận mưa lớn kéo dài nửa ngày, bao nhiêu xú uế tan mất. Nhân dân khắp nơi tràn ra đường, vui mừng hò reo, hát ca, nhảy múa… Các đức vua, hội đồng tướng lĩnh, quý tộc đến sụp lạy bên chân Đức Phật, nghẹn ngào tri ân, chảy nước mắt, không nói được nên lời. Đức Phật, phái đoàn và ba ngàn xe lương thực vào thành. Dân chúng quỳ lạy hai bên đường…
Tôn giả Mục Kiền Liên nhanh trí hướng dẫn quan đại thần của đức vua Bình Sa đến bàn tính ngay với giới cấp lãnh đạo kinh thành Vesāli, làm gấp ba việc: Phân phối lương thực, bố trí ngay chừng hai mươi địa điểm, do chiến sĩ phụ trách để cứu đói rộng rãi cho dân chúng. Nhóm chiến sĩ khác cùng với thanh niên tình nguyện rải khắp các nơi, chôn lấp hoặc thiêu đốt tất cả tử thi còn lại. Bố trí một quảng trường và những dãy nhà có mái che, có sạp nằm để phái đoàn lương y do quan trưởng ngự y Jīvaka dẫn đạo, chữa bệnh cho nhân dân. Thanh niên Saccaka thấy Đức Phật như một vị cứu tinh trên trời hiện xuống, cứu giúp muôn dân, nên huy động cả ngàn con em quý tộc tham gia hăng hái việc này việc kia chung với phái đoàn cứu tế.
Đêm xuống, dưới ánh đuốc chập chờn, đại đức A Nan Đà dẫn đầu năm trăm Tỳ-kheo đi quanh thành Vesāli ba vòng, tụng bài kinh Ratanasutta suốt đêm không ngủ. Lời kinh vang lên rằng:

(Phần chính kinh Tam Bảo) 
Xin thỉnh chư Thiên ngự trên cõi trời Dục giới cùng Sắc giới; Chư Thiên ngự trên đỉnh núi, núi không liền, hoặc nơi hư không; ngự nơi cồn bãi, đất liền hoặc các châu quận; ngự trên cây cối rừng rậm hoặc ruộng vườn; chư Dạ Xoa, Càn Thát Bà, cùng Long Vương dưới nước trên bờ, hoặc nơi không bằng phẳng gần đây, xin thỉnh hội họp lại đây. Lời này là kim ngôn cao thượng của Ðức CÙ ĐÀM mà chúng tôi tụng đây.
Xin các bậc hiền triết hãy lắng nghe lời này. (3 lần) (3 tiếng chuông) 
Phàm chúng thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Phát sinh lòng hoan hỷ
Chính tâm và thành ý
Lắng nghe lời dạy này:
Tất cả chúng thiên nhân
Hãy bi mẫn đồng tâm
Lòng từ luôn rộng mở
Năng chuyên cần gia hộ
Đối với nữ nam nào
Ngày đêm thường bố thí. (1 tiếng chuông)
Phàm những tài sản gì
Đời này hoặc đời sau
Ngọc báu hay trân châu
Có cùng khắp thiên giới
Nhưng chẳng gì sánh nổi
Đức Thiện Thệ Như Lai
Chính Phật Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Ly dục, diệt phiền não
Pháp diệu thù bất tử
Phật Thích – ca Mâu-ni
Đắc Tịch tịnh, Vô vi
Trong Thiền, chứng ngộ Pháp
Chẳng pháp nào sánh nổi
Chính Pháp Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Bậc Vô thượng Chính Giác
Hằng ca ngợi Pháp Thiền
Trong sạch, không gián đoạn
Chẳng Thiền nào sánh nổi
Chính Pháp Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Thánh bốn đôi, tám vị
Bậc thiện hằng tán dương
Đệ tử đấng Thiện Thệ
Xứng đáng được cúng dường
Bố thí các vị ấy
Được kết quả vô lượng
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Các ngài tâm kiên cố
Ly dục sống Thánh Đạo
Khéo chân chính thiện hành
Lời Phật Gotama
Chứng đạt được quả vị
Thể nhập đạo Bất Tử
Hưởng tịch tịnh dễ dàng
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Ví như cột trụ đá
Khéo y tựa lòng đất
Dầu gió bão bốn phương
Chẳng thể nào lay động
Ta nói bậc Chân Nhân
Liễu ngộ Tứ thánh đế
Cũng tự tại, bất động
Trước Tám pháp thế gian
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Bậc Thánh Tu-đà-hoàn
Thấy rõ lý Tứ đế
Mà đức Chuyển Pháp Vương
Có trí tuệ thậm thâm
Đã khéo giảng, khéo dạy
Các ngài dù phóng dật
Cũng chẳng thể tái sinh
Nhiều hơn trong bảy kiếp
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Nhờ vững chắc chính kiến
Nhờ kiên cố chính tri
Đoạn lìa ba trói buộc
Là Thân kiến, Hoài nghi
Luôn cả Giới cấm thủ
Ra khỏi bốn đọa xứ
Không tạo sáu trọng nghiệp
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Bậc Thánh Tu-đà-hoàn
Dẫu vô tâm phạm lỗi
Bằng ý, lời hay thân
Chẳng bao giờ khuất lấp
Bởi vì đức tính này
Được gọi là “thấy Pháp”
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Ví như cây trong rừng
Đâm chồi đầu mùa hạ
Cũng vậy, đức Thế Tôn
Thuyết giảng pháp Siêu việt
Pháp đưa đến Niết-bàn
Tối thượng, vô năng thắng
Chính Phật Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Đức Phật – bậc Vô thượng
Liễu thông pháp Vô thượng
Ban bố pháp Vô thượng
Chuyển đạt pháp Vô thượng
Chính Phật Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Nghiệp cũ đã chấm dứt
Nghiệp mới không tạo nên
Nhàm chán kiếp lai sinh
Chủng tử dục diệt tận
Ví như ngọn đèn tắt
Bậc trí chứng Niết-bàn
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Phàm chúng thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tậpvề đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đỉnh lễ Phật
Đã như thật xuất hiện
Mà chư thiên, loài người
Thường cúng dường, tôn trọng
Mong với hạnh lành này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Phàm chúng thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đỉnh lễ Pháp
Đã như thật xuất hiện
Mà chư Thiên, loài người
Thường cúng dường, tôn trọng
Mong với hạnh lành này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Phàm chúng thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đỉnh lễ Tăng
Đã như thật xuất hiện
Mà chư thiên, loài người
Thường cúng dường, tôn trọng
Mong với hạnh lành này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông)

(Hết phần chính kinh Tam Bảo)  

Bài kinh với âm giọng của năm trăm vị Tỳ-kheo đồng cất lên suốt đêm trường, thật là trầm hùng khôn tả. Cả không gian rung rinh, chao đảo. Cả đất trời Vesāli như chìm ngập giữa biển âm thanh thẳm sâu, cao diệu… Chư Thiên vân tập đầy đặc cả không gian, thành kính lắng nghe kinh rồi cất lên lời đại nguyện hộ trì Tam Bảo và hộ trì quốc độ, nếu các đức vua và hội đồng tướng lãnh sống theo chánh Pháp.
Ngày hôm sau, rất nhiều người không hiểu chư Tăng đọc mật chú gì mà có uy lực kinh khiếp như vậy? Nó làm cho toàn bộ nhân dân kinh thành phải kính cẩn lắng nghe, tất thảy lo âu, sợ hãi đều tiêu tan, không những trong lòng người mà cả không gian xung quanh cũng cảm giác cả một bầu khí thanh bình và an lạc.
Các vị trưởng lão và các vị A-la-hán có trí giải thích:
– Chẳng phải là huyền chú, mật chú gì đâu, đấy là bài kinh nói lên uy lực của Tam Bảo. Uy lực ấy lại còn được hội tụ bởi uy lực của năm trăm vị Tỳ Kheo đọc tụng, tạo thành năng lực của tăng thượng tâm, có thể tác động toàn bộ nội tâm và ngoại giới đem đến sự bình yên và mát mẻ cho quốc độ này.
Công việc cứu đói, trị bệnh và vệ sinh tẩy uế các nơi kéo dài hơn cả tuần lễ, đâu đó hoàn mãn. Trong thời gian ấy, khi chư Tăng về nghỉ ở Mahāvana thì Đức Phật thuyết pháp liên tục tại triều đình, hội chúng gồm các đức vua, tướng lĩnh, quý tộc, các quan đại thần, trí thức, nhân sĩ, phú hộ, thương gia. Đức Phật nhấn mạnh về trị quốc an dân, lực lượng võ bị tuy cần thiết nhưng vẫn là thứ yếu; sự thương yêu, đoàn kết để sống trong thiện Pháp mới là yếu tố quyết định. Đức Phật triển khai một số thời Pháp liên hệ đến chư thiên, phi nhân ở trong thế giới xung quanh, phải sống làm sao để họ cùng hoan hỷ.
Thấm đẫm về hương vị của chánh Pháp và thấy rõ oai lực của Đức Phật, của hội chúng giáo đoàn đã hóa giải tức khắc ba thảm nạn; họ xin quy giáo rất nhiều và hứa cải cách việc bầu cử chọn lựa các vị vua đức độ, các quý tộc võ tướng hiền tài điều hành và lãnh đạo các nơi…
Từ đó về sau, các nước này bắt đầu thịnh cường, yên ổn trở lại. Các quý tộc Licchavī bắt đầu sống đời giản dị, khiêm tốn, thương dân như anh em. Các vị tướng trẻ không còn hống hách, ăn chơi, ngã mạn, đôi khi họ chỉ ngủ trên nệm cỏ, với vũ khí sẵn sàng bên người, có thể vùng dậy bất cứ lúc nào để chăm lo an ninh cho nhân dân.
Đức Phật ở lại Vesāli nửa tháng thì dân chúng đã hùn góp, chung tay, chung lực làm xong một công trình lớn: Ngôi Nhà Nóc Nhọn tại Mahāvana để cúng dường lên thập phương Tăng. Hội đồng tướng lãnh, nhân dân và cư sĩ hai hàng thỉnh nguyện đức “Cứu-khổ-cứu-nạn” ở lại; thế nhưng, khi thấy tình hình đã trở nên sáng sủa, tốt đẹp, Đức Phật và hội chúng từ giã, trở lại Rājagaha…
Các vị trưởng lão đồng khởi lên một ý nghĩ giống nhau rằng: “Cuộc chuyển hóa của đức Tôn Sư thật là vĩ đại.”
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni (3 lần) (3 tiếng chuông) 

MƯỜI HAI NGUYỆN CỦA
ĐỨC PHẬT DƯỢC SƯ LƯU LY

Nguyện thứ nhất:
Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Chính Đẳng Chính Giác, thân Ta có hào quang sáng suốt, rực rỡ chiếu khắp vô lượng, vô số, vô biên thế giới, khiến cho tất cả chúng hữu tình đều có đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, cùng tám chục món tùy hình trang nghiêm như thân của Ta vậy. (1 tiếng chuông) 
Nguyện thứ hai:
Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, thân Ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vầng nhật nguyệt. Chúng sinh trong cõi u minh đều nhờ ánh sáng ấy mà tâm trí được mở mang và tùy ý muốn đi đến chỗ nào để làm các sự nghiệp gì cũng đều được cả. (1 tiếng chuông) 
Nguyện thứ ba:
Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, dùng trí tuệ phương tiện vô lượng vô biên độ cho chúng hữu tình, khiến ai nấy đều có đủ các vật dụng, chứ không cho ai phải chịu sự thiếu thốn. (1 tiếng chuông) 
Nguyện thứ tư:
Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình tu theo tà đạo, thì Ta khiến họ quay về an trụ trong đạo Bồ Đề, hoặc có những người tu hành theo hạnh Thanh Văn, Độc Giác, thì Ta cũng lấy phép đại thừa mà dạy bảo cho họ. (1 tiếng chuông) 
Nguyện thứ năm:
Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nhiều vô lượng, vô biên ở trong giáo pháp của Ta mà tu hành theo hạnh thanh tịnh thì Ta khiến cho tất cả đều giữ được giới pháp hoàn toàn đầy đủ cả tam tụ tịnh giới. Giả sử có người nào bị tội hủy phạm giới pháp mà khi đã nghe được danh hiệu Ta thì trở lại được thanh tịnh, khỏi sa vào đường ác. (1 tiếng chuông) 
Nguyện thứ sáu:
Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào thân hình hèn hạ, các căn không đủ, xấu xa, khờ khạo, tai điếc, mắt đui, nói năng ngọng lịu, tay chân tật nguyền, lác hủi, điên cuồng, chịu tất cả những bệnh khổ ấy mà khi đã nghe danh hiệu Ta thì liền được thân hình đoan chính, tâm tính khôn ngoan, các căn đầy đủ, không còn những bệnh khổ ấy nữa. (1 tiếng chuông)
Nguyện thứ bảy:
Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào bị những chứng bệnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ, không gặp thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khổ, mà nếu danh hiệu Ta đã nghe lọt vào tai một lần thì tất cả bệnh hoạn khổ não đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyến sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. (1 tiếng chuông) 
Nguyện thứ tám:
Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có những phụ nữ nào bị trăm điều hèn hạ khổ sở của thân gái làm cho buồn rầu, bực tức, sinh tâm nhàm chán, muốn bỏ thân ấy, mà nếu nghe danh hiệu Ta rồi thì tất cả đều được chuyển thân gái thành thân trai, có đủ hình tướng trượng phu, cho đến chứng được đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. (1 tiếng chuông) 
Nguyện thứ chín:
Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, thì khiến cho chúng hữu tình ra khỏi vòng lưới ma nghiệp, được giải thoát tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến, Ta nhiếp dẫn họ trở về với chính kiến và dần dần họ tu tập theo các hạnh Bồ tát được mau chứng đạo chính đẳng Bồ Đề. (1 tiếng chuông) 
Nguyện thứ mười:
Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào mà pháp luật nhà Vua gia tội phải bị xiềng xích, đánh đập, hoặc bị giam giữ trong chốn lao tù, hoặc bị chém giết, hoặc bị nhiều tai nạn nhục nhã, thân tâm chịu những nỗi khổ, buồn rầu, bứt rứt, nếu nghe đến danh hiệu Ta, thì nhờ sức oai thần phước đức của Ta đều được giải thoát tất cả những nỗi ưu khổ ấy. (1 tiếng chuông) 
Nguyện thứ mười một:
Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào bị sự đói khát hoành hành, đến nỗi vì tạo miếng ăn phải tạo các nghiệp dữ, mà nếu nghe danh hiệu Ta rồi chuyên niệm thọ trì thì trước hết Ta dùng các món ăn uống ngon lạ ban bố cho thân họ được no đủ và sau Ta mới đem Pháp vị nhiệm mầu kiến lập cho họ cái cảnh giới an lạc hoàn toàn. (1 tiếng chuông) 
Nguyện thứ mười hai:
Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào nghèo đến nỗi không có áo che thân, bị muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh dãi dầu, ngày đêm khổ bức, nếu nghe đến danh hiệu Ta mà chuyên niệm thọ trì thì Ta sẽ khiến cho được như ý muốn: Nào các thứ y phục tốt đẹp, nào các bảo vật trang nghiêm, nào tràng hoa, phấn sáp bát ngát mùi thơm và trống nhạc cùng những điệu ca múa tùy tâm muốn thưởng thức món nào cũng được thỏa mãn cả. (1 tiếng chuông)

Thần Chú Dược Sư

Nam mô Bạt già bạt đế. Bệ sát xả, lũ rô thích lưu ly. Bát lặt bà, hắt ra xà giả. Đát tha yết đa ra, a ra ha đế, tam miệu tam bột đà da, Đát điệt tha. Án, Bệ sát thệ, Bệ sát thệ, Bệ sát xả, Tam một yết đế tóa ha. (7 lần, lần sau cùng 3 tiếng chuông) 

TÁN THÁN PHÁP HỘI DƯỢC SƯ

Hải hội Dược Sư,
Sáng rực thần quang,
Tám vị Bồ tát giáng cát tường,
Bảy vị Phật tuyên dương.
Nhật nguyệt hồi quang,
Ban phúc thọ an khang,
Giải kết, giải kết, giải oan kết,
Nghiệp chướng bao đời đều giải hết,
Rửa sạch lòng trần, phát tâm thành,
Đối trước Phật đài, cầu giải kết.
Dược Sư Phật, Dược Sư Phật.
Tiêu tai Diên Thọ Dược Sư Phật,
Tùy tâm mãn nguyện Dược Sư Phật. (1 tiếng chuông) 

BÀI NIỆM PHẬT

Mười hai nguyện lớn, giáo chủ Đông phương.
Bốn chín đèn soi sáng đàn trường.
Bảy bảy đức chân thường, lễ bái tán dương.
Hết tai nạn được thọ trường. (3 tiếng chuông) 
Nam mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật. (10 lần) (1 tiếng chuông) 
Nam mô Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát. (3 lần) (1 tiếng chuông) 
Nam mô Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát. (3 lần) (1 tiếng chuông) 
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (3 lần) (3 tiếng chuông) 

PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN

Đệ tử chúng con tuỳ thuận tu tập mười nguyện lớn của đức Phổ Hiền Bồ Tát:
Một là kính lễ chư Phật.
Hai là xưng tán Như Lai.
Ba là rộng tu cúng dường.
Bốn là sám hối nghiệp chướng.
Năm là tùy hỷ công đức.
Sáu là thỉnh Phật chuyển pháp.
Bảy là thỉnh Phật trụ thế.
Tám là thường theo học Phật.
Chín là hằng thuận chúng sinh.
Mười là hồi hướng khắp tất cả. (3 tiếng chuông) 

PHÁT NGUYỆN BỒ ĐỀ
(Quỳ gối chắp tay phát nguyện ba lần)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
Kính lạy Tam Bảo thường trụ ở khắp mười phương. Con nguyện nương theo Sư Phụ Thích Trúc Thái Minh và chư Tăng chùa Ba Vàng, con xin được thực hành công hạnh:
(Chủ lễ đọc trước, đại chúng đọc theo sau)
“PHÁT TÂM BỒ ĐỀ
HỘ TRÌ TAM BẢO
CHUYỂN TẢI PHẬT PHÁP
RỘNG KHẮP THẾ GIAN.” (3 lần) (3 tiếng chuông) (1 lễ)

PHỤC NGUYỆN

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
Chúng con xin hồi hướng công đức tu hành này về Vô Thượng Bồ đề và hối hướng cho cho các nhà quản lý, các nhà khoa học, các nhân viên y tế và tất cả những ai đang nỗ lực trong công cuộc phòng ngừa, khống chế và dập tắt dịch Covid-19 tại Việt Nam cũng như trên thế giới, có đủ duyên lành kiểm soát được dịch, sớm tìm ra Vắc xin, dứt trừ nạn dịch.
Hồi hướng cho tất cả những bệnh nhân có thêm năng lượng tích cực cho việc điều trị bệnh; hồi hướng cho tất cả những bệnh nhân quá vãng sớm được sinh về cảnh giới an lành.
Nguyện cho tất cả chúng con cùng với gia quyến đều không bị lây nhiễm bệnh và tất cả chúng sinh thoát khỏi nạn nghiệp này.
Chúng con lại xin hồi hướng cho nạn hạn hán trên đất nước Việt Nam của chúng con sớm được hóa giải.
Khắp nguyện thế giới hòa bình, nhân sinh an lạc, tình dữ vô tình, đồng tròn thành Phật Đạo.
Nam mô Thường Gia Hộ Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 tiếng chuông) 

LỄ TRI ÂN TAM BẢO

(đứng lễ)

Chúng con thành kính tri ân Tam Bảo và xin chí thành đảnh lễ:

Chí tâm quy mạng lễ mười phương vô thượng Tam Bảo. (7 lễ) (3 tiếng chuông) 

HỒI HƯỚNG

(Pháp khí: chuông, mõ)

Tụng kinh công đức có bao nhiêu,
Con xin lấy đó hồi hướng về,
Nguyện khắp pháp giới các chúng sinh
Thảy đều thể nhập vô sinh nhẫn. (1 tiếng chuông) 
Nguyện tiêu ba chướng sạch phiền não,
Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời,
Nguyện các tội chướng thảy tiêu trừ,
Đời đời thường hành Bồ Tát đạo. (1 tiếng chuông) 
Nguyện đem công đức tu hành này,
Chan rải mười phương khắp tất cả,
Hết thảy chúng con cùng các loài,
Đồng được lên ngôi Vô Thượng giác. (3 tiếng chuông) 

TAM TỰ QUY Y
(pháp khí: khánh, chuông)

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 

KHÓA TỐI

CỬ TRẦM HƯƠNG ĐỐT
NGUYỆN HƯƠNG

Nguyện thử diệu hương vân,
Biến mãn thập phương giới
Cúng dường nhất thiết Phật
Tôn Pháp chư Bồ Tát
Vô biên Thanh Văn chúng
Cập nhất thiết Thánh Hiền
Duyên khởi quang minh đài
Xứng tính tác Phật sự
Phổ huân chư chúng sinh,
Giai phát Bồ Đề tâm
Viến ly chư vọng nghiệp,
Viên thành vô thượng đạo. (1 tiếng chuông) 
Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát ( 3 lần) (1 tiếng chuông) 

VĂN KHẤN
(Quỳ gối, chắp tay đọc)

Nam mô thập phương pháp giới thường trụ Tam Bảo tác đại chứng minh!
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
Đệ tử con tên là: ……… Pháp danh: ……… đại diện cho toàn thể gia đình hiện đang ở tại: ………
Hôm nay là ngày… tháng… năm… Nhân duyên hiện nay dịch bệnh Covid-19 đã lan tràn khắp cả thế giới mà chưa tìm ra thuốc để chữa trị. Trên đất nước Việt Nam chúng con có nhiều vùng bị hạn hán rất nặng, nhân dân vô cùng thống khổ.
Đệ tử con xin phát tâm Bồ đề và con xin phát nguyện tu tập theo sự chỉ dạy của Sư Phụ: Tụng kinh Tam Bảo, lễ Phật sám hối và làm các việc phước để hộ trì Tam Bảo, nguyện cho chính Pháp của Phật được tuyên dương và hồi hướng cho công cuộc phòng, chống dịch Covid-19 được thành công; nguyện cho các nhà quản lý, các nhà khoa học, các nhân viên y tế và tất cả những ai tham gia công cuộc phòng chống dịch đều được đầy đủ sức khỏe, trí tuệ sáng suốt, chỉ đạo hanh thông, trên dưới đồng lòng, kiểm soát được dịch, sớm đủ duyên lành, tìm ra vắc xin dập tắt dịch bệnh.
Chúng con cũng xin hồi hướng cho tất cả những bệnh nhân Covid-19 có thêm năng lượng tích cực cho việc điều trị bệnh; hồi hướng cho tất cả những bệnh nhân quá vãng sớm được sinh về cảnh giới an lành.
Chúng con cũng xin hồi hướng, nguyện cầu sớm có được mưa tại các vùng khô hạn, thời tiết được thuận hoà, mùa màng tươi tốt, và sớm hoá giải nạn hạn hán.
Chúng con kính xin Tam Bảo chứng minh gia hộ cho lời khẩn nguyện của chúng con.
Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát! (1 lễ) (3 tiếng chuông) 

LỄ TÁN PHẬT
(pháp khí khánh, chuông)
TÁN PHẬT

Đấng Pháp Vương vô thượng,
Ba cõi chẳng ai bằng,
Thầy dạy khắp trời người,
Cha lành chung bốn loài.
Quy y trọn một niệm,
Dứt sạch nghiệp ba kỳ,
Xưng dương cùng tán thán,
Ức kiếp không cùng tận. (1 tiếng chuông) 

QUÁN TƯỞNG

Phật, chúng sinh tính thường rỗng lặng,
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn,
Lưới đế châu ví đạo tràng,
Mười phương Phật Bảo hào quang sáng ngời,
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. (1 tiếng chuông) 

LỄ TAM BẢO

Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô tận hư không biến Pháp giới quá, hiện, vị lai, thập phương chư Phật, tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (1 tiếng chuông)  (1 lạy)
Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Sa Bà Giáo Chủ, Điều Ngự Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, đương lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật, Bồ Tát. (1 tiếng chuông)  (1 lạy)
Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Tây phương cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 tiếng chuông)  (1 lạy)
Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Đông phương Giáo Chủ Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Nhất Thiết Thánh Chúng. (3 tiếng chuông)  (1 lạy)

TÁN PHÁP
(pháp khí: chuông, mõ)

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn
Trăm nghìn muôn kiếp khó được gặp
Nay con nghe thấy vâng gìn giữ
Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn. (1 tiếng chuông) 
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần) (3 tiếng chuông) 

SÁM HỐI CHUYỂN HÓA
(Quỳ, pháp khí khánh)

Trang nghiêm đài sen ngự tọa
Đại hùng từ phụ Thích Ca
Đệ tử lắng lòng thanh tịnh
Bàn tay chắp thành liên hoa
Cung kính hướng về Điều Ngự
Dâng lời sám nguyện thiết tha (1 tiếng chuông)
Đệ tử phước duyên thiếu kém
Sống trong thất niệm lâu dài
Không được sớm gặp Chánh Pháp
Bao nhiêu phiền lụy đã gây
Bao nhiêu lỡ lầm vụng dại
Vô minh che lấp tháng ngày (1 tiếng chuông) 
Vườn tâm gieo hạt giống xấu
Tham, sân, tự ái dẫy đầy
Những nghiệp sát, đạo, dâm, vọng
Gây nên từ trước đến nay.
Những điều đã làm, đã nói
Thường gây đổ vỡ hàng ngày.
Bao nhiêu não phiền nghiệp chướng
Nguyện xin sám hối từ đây. (1 tiếng chuông) 
Đệ tử thấy mình nông nổi
Con đường chánh niệm lãng xao
Chất chứa vô minh phiền não
Tạo nên bao nỗi hận sầu;
Có lúc tâm tư buồn chán
Mang đầy dằn vặt lo âu,
Vì không hiểu được kẻ khác
Cho nên hờn giận, oán cừu; (1 tiếng chuông) 
Lý luận xong rồi trách móc
Mỗi ngày mỗi chuốc khổ đau
Chia cách hố kia càng rộng
Có ngày không nói với nhau
Cũng không muốn nhìn thấy mặt
Gây nên nội kết dài lâu;
Nay con hướng về Tam Bảo
Ăn năn khẩn thiết cúi đầu. (1 tiếng chuông) 
Đệ tử biết trong tâm thức
Bao nhiêu hạt tốt lấp vùi
Hạt giống thương yêu, hiểu biết
Và bao hạt giống an vui.
Nhưng vì chưa biết tưới tẩm
Hạt lành không mọc tốt tươi
Cứ để khổ đau tràn lấp
Làm cho đen tối cuộc đời
Quen lối bỏ hình bắt bóng
Đuổi theo hạnh phúc xa vời.
Tâm cứ bận về quá khứ
Hoặc lo rong ruổi tương lai
Quanh quẩn trong vòng buồn giận
Xem thường bảo vật trong tay
Dày đạp lên trên hạnh phúc
Tháng năm sầu khổ miệt mài
Giờ đây trầm xông bảo điện
Con nguyện sám hối đổi thay. (1 tiếng chuông) 
Đệ tử tâm thành quy ngưỡng
Hướng về chư Phật mười phương
Cùng với các vị Bồ Tát
Thanh văn, Duyên giác, Thánh hiền (1 tiếng chuông) 
Chí thành cầu xin sám hối
Bao nhiêu lầm lỗi triền miên
Xin lấy cam lồ tịnh thủy
Tưới lên dập tắt não phiền.
Xin lấy con thuyền Chánh Pháp
Đưa con vượt nẻo oan khiên.
Xin nguyện sống đời tỉnh thức
Học theo đạo lý chân truyền.
Thực tập nụ cười hơi thở
Sống đời chánh niệm tinh chuyên (1 tiếng chuông) 
Đệ tử xin nguyện trở lại
Sống trong hiện tại nhiệm mầu
Vườn tâm ươm hạt giống tốt
Vun trồng hiểu biết, thương yêu.
Xin nguyện học phép quán chiếu
Tập nhìn tập hiểu thật sâu
Thấy được tự tánh các pháp
Thoát ngoài sinh tử trần lao.
Nguyện học nói lời ái ngữ
Thương yêu, chăm sóc sớm chiều
Đem nguồn vui tới mọi nẻo
Giúp người vơi nỗi sầu đau
Đền đáp công ơn cha mẹ
Ơn thầy nghĩa bạn dày sâu.
Tín thành tâm hương một nén
Đài sen con nguyện hồi đầu. (1 tiếng chuông) 
Nguyện đức từ bi che chở
Trên con đường đạo nhiệm mầu
Nguyện xin chuyên cần tu tập
Vuông tròn đạo quả về sau (1 tiếng chuông) 

Nam mô Cầu Sám Hối Bồ Tát (1 tiếng chuông) 
Nam mô Cầu Sám Hối Chư Phật (1 tiếng chuông) 
Nam mô Cầu Sám Hối Phật Đà. (3 tiếng chuông) 

KINH TAM BẢO

(Phần dẫn chuyện) 

Một thời Đức Phật an cư ở tại Tinh xá Trúc Lâm cùng với đại chúng Tỳ Kheo. Bấy giờ, qua tháng thứ hai an cư, tại tiểu bang Licchavī đã xảy ra một biến cố. Chuyện là, miền Nam sông Gaṅgā trời đổ mưa liên tục từ ngày này sang ngày khác; nhưng suốt bốn năm tháng nay, phía Bắc lại không có một giọt mưa. Thế là một thảm họa đổ xuống các tiểu bang ở đây, nhất là kinh thành Vesāli: Đất đai nứt nẻ, đồng ruộng, nương vườn khô cháy; mùa màng thất bát, lúa gạo dự trữ không đủ sức cầm hơi, rau cỏ không có mà ăn. Thế là đói khát trầm trọng xảy ra. Đó là nạn thứ nhất.
Vì đói nên người chết rất nhiều, người sống không còn đủ sức mang xác ra nghĩa địa hoặc hỏa thiêu; họ đành phải quăng xác ra ngoại thành, mùi hôi thối tỏa khắp mọi nơi. Ác dạ-xoa lộng hành quậy phá làm khổ dân chúng. Đó là nạn thứ hai.
Vì xác chết, vì hôi thối nên dịch bệnh lan tràn; nhất là bệnh đường ruột, bệnh bao tử, bệnh dịch tả càng làm cho người chết nhiều thêm nữa. Đó là nạn thứ ba!
Các đức vua và hội đồng tướng lĩnh các tiểu bang cộng hòa cấp tốc hội họp, đề cử một viên đại thần, tên là Mahāli – vốn là thân hữu của đức vua Bình Sa – làm trưởng đoàn sứ giả, mang lễ phẩm trọng hậu đến Rājagaha, nhờ đức vua giúp đỡ, trình lên Đức Phật, mong ngài đến tiểu bang Licchavī, kinh thành Vesāli để cứu khổ cho muôn dân. Đức vua không dám nhận hậu tình, bảo rằng đoàn sứ giả nên đến đảnh lễ Đức Phật, dâng lễ phẩm và tường trình mọi sự lên ngài, hiện ngài đang an cư ở Tinh xá Trúc Lâm với đại chúng Tỳ-kheo.
Tôn giả Mục Kiền Liên đứng một bên, sau khi nghe viên đại thần Mahāli trình bày ba thảm nạn tại Vesāli, tôn giả liền khẩn cầu Đức Phật giải họa.
Đức Phật đã sớm biết chuyện này, ngài nói:
– Các ông hãy về đi! Như Lai và hội chúng năm trăm Tỳ-kheo sẽ đến Vesāli trong mấy hôm nữa.
Lúc phái đoàn sứ giả ra về rồi, Đức Phật nói chuyện với vị đại đệ tử:
– Này Mục Kiền Liên! Ba thảm nạn của Vesāli xảy ra là do ba nguyên nhân tương tác lẫn nhau: Thứ nhất là do nắng nóng khô hạn, thứ hai là do ác pháp phát sanh từ các người lãnh đạo, thứ ba là do chư thiên, thiện thần, thiện dạ-xoa bỏ đi. Bây giờ, ông hãy gọi A Nan Đà đến đây.
Sau khi có mặt cả hai vị, Đức Phật nói:
– A Nan Đà có trí nhớ rất tốt, vậy phải học bài kinh uy lực của Tam Bảo mà Như Lai sẽ đọc sau đây, nó có tên là Ratanasutta; sau khi thuộc rồi, ông hãy lựa chọn mấy trăm vị Tỳ-kheo còn trẻ, trí nhớ tốt, tức tốc dạy cho họ học thuộc bài kinh ấy. Còn Mục Kiền Liên thì vào hoàng cung, gặp đức vua Bình Sa, nói với nhà vua nên hỗ trợ cho Vesāli trong lúc đói kém, khoảng chừng một ngàn xe lương thực; và đức vua cũng nên cử quan đại thần và quân đội đích thân vận chuyển; chuẩn bị xong lúc nào là lên đường ngay lúc ấy; cứu đói như cứu lửa – phước báu sẽ rất lớn; và nhờ thế, tâm đức của đức vua sẽ sáng chói và lan rộng khắp cả châu Diêm-phù-đề. Cũng xin với đức vua là cho thầy thuốc Jīvaka, các trợ lý¬ lương y, nhân viên cùng thuốc men đến để trị bệnh.
Đại đức A Nan Đà làm tròn phận sự của mình, có năm trăm Tỳ-kheo cùng học thuộc lòng. Còn đức vua Bình Sa thì sẵn sàng hoan hỷ làm theo lời Đức Phật dạy; và còn hơn thế nữa, do mùa màng đất nước này bội thu, nên nhà vua đã trợ cấp hào sảng hai ngàn xe lương thực để cứu đói. Lại còn rộng lượng cho vay thêm một ngàn tấn lương thực nữa, thời gian trả, không hạn định; lúc nào mùa màng bội thu, phú túc sẽ trả sau.
Thế rồi, Đức Phật cùng mấy chục vị trưởng lão, năm trăm Tỳ-kheo và phái đoàn cứu tế rầm rộ lên đường. Bảy ngày sau, đến sông Gaṅgā, tại thị trấn Pāṭaligama, đức vua đã cho chuẩn bị sẵn năm mươi chiếc thuyền lớn để chở phái đoàn và lương thực. Đang mùa mưa nên nước cuồn cuộn tràn bờ, nhờ thuyền lớn nên xuôi dòng nhẹ nhàng; đến ngã ba sông, đoàn thuyền bỏ sông Gaṅgā, theo nhánh sông Gaṇdak tiến lên phương bắc. Hai bên bờ, đồng khô cỏ cháy trông thật tang thương. Càng đến gần Vesāli chừng nào thì thuyền đi càng chậm vì sông cạn, lại lềnh bềnh tử thi và rác rưởi. Mùi xú uế bốc lên nồng nặc. Ròng rã ba ngày, đoàn thuyền khá gian lao, vất vả mới đến được bến nước giang khẩu vào kinh thành Vesāli.
Khi Đức Phật vừa đặt chân lên bờ đông nước cộng hòa Licchavī thì một trận mưa rất lớn, tối trời tối đất như tự cổng trời mở ra, xối xả đổ xuống vùng đất đại hạn như đã chờ đợi từ lâu lắm.Trận mưa lớn kéo dài nửa ngày, bao nhiêu xú uế tan mất. Nhân dân khắp nơi tràn ra đường, vui mừng hò reo, hát ca, nhảy múa… Các đức vua, hội đồng tướng lĩnh, quý tộc đến sụp lạy bên chân Đức Phật, nghẹn ngào tri ân, chảy nước mắt, không nói được nên lời. Đức Phật, phái đoàn và ba ngàn xe lương thực vào thành. Dân chúng quỳ lạy hai bên đường…
Tôn giả Mục Kiền Liên nhanh trí hướng dẫn quan đại thần của đức vua Bình Sa đến bàn tính ngay với giới cấp lãnh đạo kinh thành Vesāli, làm gấp ba việc: Phân phối lương thực, bố trí ngay chừng hai mươi địa điểm, do chiến sĩ phụ trách để cứu đói rộng rãi cho dân chúng. Nhóm chiến sĩ khác cùng với thanh niên tình nguyện rải khắp các nơi, chôn lấp hoặc thiêu đốt tất cả tử thi còn lại. Bố trí một quảng trường và những dãy nhà có mái che, có sạp nằm để phái đoàn lương y do quan trưởng ngự y Jīvaka dẫn đạo, chữa bệnh cho nhân dân. Thanh niên Saccaka thấy Đức Phật như một vị cứu tinh trên trời hiện xuống, cứu giúp muôn dân, nên huy động cả ngàn con em quý tộc tham gia hăng hái việc này việc kia chung với phái đoàn cứu tế.
Đêm xuống, dưới ánh đuốc chập chờn, đại đức A Nan Đà dẫn đầu năm trăm Tỳ-kheo đi quanh thành Vesāli ba vòng, tụng bài kinh Ratanasutta suốt đêm không ngủ. Lời kinh vang lên rằng:

(Phần chính kinh Tam Bảo) 
Xin thỉnh chư Thiên ngự trên cõi trời Dục giới cùng Sắc giới; Chư Thiên ngự trên đỉnh núi, núi không liền, hoặc nơi hư không; ngự nơi cồn bãi, đất liền hoặc các châu quận; ngự trên cây cối rừng rậm hoặc ruộng vườn; chư Dạ Xoa, Càn Thát Bà, cùng Long Vương dưới nước trên bờ, hoặc nơi không bằng phẳng gần đây, xin thỉnh hội họp lại đây. Lời này là kim ngôn cao thượng của Ðức CÙ ĐÀM mà chúng tôi tụng đây.
Xin các bậc hiền triết hãy lắng nghe lời này. (3 lần) (3 tiếng chuông) 
Phàm chúng thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Phát sinh lòng hoan hỷ
Chính tâm và thành ý
Lắng nghe lời dạy này:
Tất cả chúng thiên nhân
Hãy bi mẫn đồng tâm
Lòng từ luôn rộng mở
Năng chuyên cần gia hộ
Đối với nữ nam nào
Ngày đêm thường bố thí. (1 tiếng chuông)
Phàm những tài sản gì
Đời này hoặc đời sau
Ngọc báu hay trân châu
Có cùng khắp thiên giới
Nhưng chẳng gì sánh nổi
Đức Thiện Thệ Như Lai
Chính Phật Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Ly dục, diệt phiền não
Pháp diệu thù bất tử
Phật Thích – ca Mâu-ni
Đắc Tịch tịnh, Vô vi
Trong Thiền, chứng ngộ Pháp
Chẳng pháp nào sánh nổi
Chính Pháp Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Bậc Vô thượng Chính Giác
Hằng ca ngợi Pháp Thiền
Trong sạch, không gián đoạn
Chẳng Thiền nào sánh nổi
Chính Pháp Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Thánh bốn đôi, tám vị
Bậc thiện hằng tán dương
Đệ tử đấng Thiện Thệ
Xứng đáng được cúng dường
Bố thí các vị ấy
Được kết quả vô lượng
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Các ngài tâm kiên cố
Ly dục sống Thánh Đạo
Khéo chân chính thiện hành
Lời Phật Gotama
Chứng đạt được quả vị
Thể nhập đạo Bất Tử
Hưởng tịch tịnh dễ dàng
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Ví như cột trụ đá
Khéo y tựa lòng đất
Dầu gió bão bốn phương
Chẳng thể nào lay động
Ta nói bậc Chân Nhân
Liễu ngộ Tứ thánh đế
Cũng tự tại, bất động
Trước Tám pháp thế gian
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Bậc Thánh Tu-đà-hoàn
Thấy rõ lý Tứ đế
Mà đức Chuyển Pháp Vương
Có trí tuệ thậm thâm
Đã khéo giảng, khéo dạy
Các ngài dù phóng dật
Cũng chẳng thể tái sinh
Nhiều hơn trong bảy kiếp
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Nhờ vững chắc chính kiến
Nhờ kiên cố chính tri
Đoạn lìa ba trói buộc
Là Thân kiến, Hoài nghi
Luôn cả Giới cấm thủ
Ra khỏi bốn đọa xứ
Không tạo sáu trọng nghiệp
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Bậc Thánh Tu-đà-hoàn
Dẫu vô tâm phạm lỗi
Bằng ý, lời hay thân
Chẳng bao giờ khuất lấp
Bởi vì đức tính này
Được gọi là “thấy Pháp”
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Ví như cây trong rừng
Đâm chồi đầu mùa hạ
Cũng vậy, đức Thế Tôn
Thuyết giảng pháp Siêu việt
Pháp đưa đến Niết-bàn
Tối thượng, vô năng thắng
Chính Phật Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Đức Phật – bậc Vô thượng
Liễu thông pháp Vô thượng
Ban bố pháp Vô thượng
Chuyển đạt pháp Vô thượng
Chính Phật Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Nghiệp cũ đã chấm dứt
Nghiệp mới không tạo nên
Nhàm chán kiếp lai sinh
Chủng tử dục diệt tận
Ví như ngọn đèn tắt
Bậc trí chứng Niết-bàn
Chính Tăng Bảo như vậy
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Phàm chúng thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tậpvề đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đỉnh lễ Phật
Đã như thật xuất hiện
Mà chư thiên, loài người
Thường cúng dường, tôn trọng
Mong với hạnh lành này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông) 
Phàm chúng thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đỉnh lễ Pháp
Đã như thật xuất hiện
Mà chư Thiên, loài người
Thường cúng dường, tôn trọng
Mong với hạnh lành này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông)
Phàm chúng thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đỉnh lễ Tăng
Đã như thật xuất hiện
Mà chư thiên, loài người
Thường cúng dường, tôn trọng
Mong với hạnh lành này
Được sống chân hạnh phúc. (1 tiếng chuông)

(Hết phần chính kinh Tam Bảo)  

Bài kinh với âm giọng của năm trăm vị Tỳ-kheo đồng cất lên suốt đêm trường, thật là trầm hùng khôn tả. Cả không gian rung rinh, chao đảo. Cả đất trời Vesāli như chìm ngập giữa biển âm thanh thẳm sâu, cao diệu… Chư Thiên vân tập đầy đặc cả không gian, thành kính lắng nghe kinh rồi cất lên lời đại nguyện hộ trì Tam Bảo và hộ trì quốc độ, nếu các đức vua và hội đồng tướng lãnh sống theo chánh Pháp.
Ngày hôm sau, rất nhiều người không hiểu chư Tăng đọc mật chú gì mà có uy lực kinh khiếp như vậy? Nó làm cho toàn bộ nhân dân kinh thành phải kính cẩn lắng nghe, tất thảy lo âu, sợ hãi đều tiêu tan, không những trong lòng người mà cả không gian xung quanh cũng cảm giác cả một bầu khí thanh bình và an lạc.
Các vị trưởng lão và các vị A-la-hán có trí giải thích:
– Chẳng phải là huyền chú, mật chú gì đâu, đấy là bài kinh nói lên uy lực của Tam Bảo. Uy lực ấy lại còn được hội tụ bởi uy lực của năm trăm vị Tỳ Kheo đọc tụng, tạo thành năng lực của tăng thượng tâm, có thể tác động toàn bộ nội tâm và ngoại giới đem đến sự bình yên và mát mẻ cho quốc độ này.
Công việc cứu đói, trị bệnh và vệ sinh tẩy uế các nơi kéo dài hơn cả tuần lễ, đâu đó hoàn mãn. Trong thời gian ấy, khi chư Tăng về nghỉ ở Mahāvana thì Đức Phật thuyết pháp liên tục tại triều đình, hội chúng gồm các đức vua, tướng lĩnh, quý tộc, các quan đại thần, trí thức, nhân sĩ, phú hộ, thương gia. Đức Phật nhấn mạnh về trị quốc an dân, lực lượng võ bị tuy cần thiết nhưng vẫn là thứ yếu; sự thương yêu, đoàn kết để sống trong thiện Pháp mới là yếu tố quyết định. Đức Phật triển khai một số thời Pháp liên hệ đến chư thiên, phi nhân ở trong thế giới xung quanh, phải sống làm sao để họ cùng hoan hỷ.
Thấm đẫm về hương vị của chánh Pháp và thấy rõ oai lực của Đức Phật, của hội chúng giáo đoàn đã hóa giải tức khắc ba thảm nạn; họ xin quy giáo rất nhiều và hứa cải cách việc bầu cử chọn lựa các vị vua đức độ, các quý tộc võ tướng hiền tài điều hành và lãnh đạo các nơi…
Từ đó về sau, các nước này bắt đầu thịnh cường, yên ổn trở lại. Các quý tộc Licchavī bắt đầu sống đời giản dị, khiêm tốn, thương dân như anh em. Các vị tướng trẻ không còn hống hách, ăn chơi, ngã mạn, đôi khi họ chỉ ngủ trên nệm cỏ, với vũ khí sẵn sàng bên người, có thể vùng dậy bất cứ lúc nào để chăm lo an ninh cho nhân dân.
Đức Phật ở lại Vesāli nửa tháng thì dân chúng đã hùn góp, chung tay, chung lực làm xong một công trình lớn: Ngôi Nhà Nóc Nhọn tại Mahāvana để cúng dường lên thập phương Tăng. Hội đồng tướng lãnh, nhân dân và cư sĩ hai hàng thỉnh nguyện đức “Cứu-khổ-cứu-nạn” ở lại; thế nhưng, khi thấy tình hình đã trở nên sáng sủa, tốt đẹp, Đức Phật và hội chúng từ giã, trở lại Rājagaha…
Các vị trưởng lão đồng khởi lên một ý nghĩ giống nhau rằng: “Cuộc chuyển hóa của đức Tôn Sư thật là vĩ đại.”
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni (3 lần) (3 tiếng chuông) 

PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN

Đệ tử chúng con tuỳ thuận tu tập mười nguyện lớn của đức Phổ Hiền Bồ Tát:
Một là kính lễ chư Phật.
Hai là xưng tán Như Lai.
Ba là rộng tu cúng dường.
Bốn là sám hối nghiệp chướng.
Năm là tùy hỷ công đức.
Sáu là thỉnh Phật chuyển pháp.
Bảy là thỉnh Phật trụ thế.
Tám là thường theo học Phật.
Chín là hằng thuận chúng sinh.
Mười là hồi hướng khắp tất cả. (3 tiếng chuông) 

PHÁT NGUYỆN BỒ ĐỀ

(Quỳ gối chắp tay phát nguyện ba lần)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
Kính lạy Tam Bảo thường trụ ở khắp mười phương. Con nguyện nương theo Sư Phụ Thích Trúc Thái Minh và chư Tăng chùa Ba Vàng, con xin được thực hành công hạnh:
(Chủ lễ đọc trước, đại chúng đọc theo sau)
“PHÁT TÂM BỒ ĐỀ
HỘ TRÌ TAM BẢO
CHUYỂN TẢI PHẬT PHÁP
RỘNG KHẮP THẾ GIAN.” (3 lần) (3 tiếng chuông) (1 lễ)

PHỤC NGUYỆN

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
Chúng con xin hồi hướng công đức tu hành này về Vô Thượng Bồ đề và hối hướng cho cho các nhà quản lý, các nhà khoa học, các nhân viên y tế và tất cả những ai đang nỗ lực trong công cuộc phòng ngừa, khống chế và dập tắt dịch Covid-19 tại Việt Nam cũng như trên thế giới, có đủ duyên lành kiểm soát được dịch, sớm tìm ra Vắc xin, dứt trừ nạn dịch.
Hồi hướng cho tất cả những bệnh nhân có thêm năng lượng tích cực cho việc điều trị bệnh; hồi hướng cho tất cả những bệnh nhân quá vãng sớm được sinh về cảnh giới an lành.
Nguyện cho tất cả chúng con cùng với gia quyến đều không bị lây nhiễm bệnh và tất cả chúng sinh thoát khỏi nạn nghiệp này.
Chúng con lại xin hồi hướng cho nạn hạn hán trên đất nước Việt Nam của chúng con sớm được hóa giải.
Khắp nguyện thế giới hòa bình, nhân sinh an lạc, tình dữ vô tình, đồng tròn thành Phật Đạo.
Nam mô Thường Gia Hộ Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 tiếng chuông) 

LỄ TRI ÂN TAM BẢO

(đứng lễ)

Chúng con thành kính tri ân Tam Bảo và xin chí thành đảnh lễ:

Chí tâm quy mạng lễ mười phương vô thượng Tam Bảo. (7 lễ) (3 tiếng chuông)

HỒI HƯỚNG
(Pháp khí: chuông, mõ)

Tụng kinh công đức có bao nhiêu,
Con xin lấy đó hồi hướng về,
Nguyện khắp pháp giới các chúng sinh
Thảy đều thể nhập vô sinh nhẫn. (1 tiếng chuông) 
Nguyện tiêu ba chướng sạch phiền não,
Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời,
Nguyện các tội chướng thảy tiêu trừ,
Đời đời thường hành Bồ Tát đạo. (1 tiếng chuông) 
Nguyện đem công đức tu hành này,
Chan rải mười phương khắp tất cả,
Hết thảy chúng con cùng các loài,
Đồng được lên ngôi Vô Thượng giác. (3 tiếng chuông) 

TAM TỰ QUY Y
(pháp khí: khánh, chuông)

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 
Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lễ) (1 tiếng chuông)
Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lễ) (1 tiếng chuông) 

Các bài nên xem: 

Content Protection by DMCA.com

Ban Quản Trị

Xem tất cả các bài

Thêm bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *