Quý vị và các bạn tải và in bản PDF tại đây: Hướng Dẫn Cách Làm Lễ Sang Cát

THỜI GIAN: Làm theo hướng dẫn này khi làm Lễ Sang Cát từ 7 đến 10 ngày.

CHÚ Ý:
Thời gian hạ huyệt tùy thuộc vào sự sắp xếp công việc của gia đình, không phải nhất thiết là ban đêm.
Nhân dân, Phật tử thực hiện theo nghi lễ này trước khi thực hiện xin liên lạc với số điện thoại 0981392858 (Sư Thầy Thích Trúc Bảo Việt) để xin Sư Thầy chứng minh. Nếu không liên lạc được thì nhắn tin với nội dung sau: “Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Đệ tử con tên là: … ở tại… ngày… tháng… năm… Gia đình con có làm lễ sang cát cho hương linh (bố, mẹ,…)… gia đình con xin Sư Thầy chứng minh cho gia đình chúng con mọi công việc được thành tựu đúng Pháp. Nam Mô A Di Đà Phật!”
– Lưu ý: Khi làm lễ không kiêng kỵ ngày giờ, tháng, năm và tuổi. Do gia đình bố trí công việc mà sắp xếp thời gian phù hợp để làm lễ.

CÁC BƯỚC:
Ngày đầu tiên làm theo các bước sau:
+ Bước 1: Làm lễ tại phần mộ chưa sang cát.
+ Bước 2: Làm lễ tại khu đất đặt mộ mới (động thổ xây mộ hoặc đã có huyệt từ trước).
+ Bước 3: Làm lễ tại nhà.
Các ngày tiếp theo tụng kinh tại nhà. Kinh tụng: Kinh Cúng Linh, Kinh Veluvana (Chuyện Ngạ Quỷ Ngoại Bức Tường), Kinh Địa Tạng Phẩm 7
Ngày sang cát, làm theo các bước sau:
+ Bước 4: Làm lễ trước khi đào mộ.
+ Bước 5: Làm lễ hạ huyệt.
+ Bước 6: Làm lễ tại nhà.

HƯỚNG DẪN CHI TIẾT:

A. Các Bước của Ngày Đầu Tiên

Bước 1: Làm Lễ Tại Phần Mộ Chưa Sang Cát

1. Sắm Lễ:

Hương, hoa quả (loại quả thì tuỳ ý và không quy định số lượng là bao nhiêu), nước trắng, xôi hoặc bát cơm trắng, bánh kẹo tuỳ ý. Đặt tiền trên mộ (tuỳ ý).

2. Bài Khấn:

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Nam Mô A Di Đà Phật!
Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con. Con xin thỉnh mời chư Thiên, chư Thần Linh, thổ địa, đẳng đẳng chư Thần quang giáng về nơi đây ủng hộ cho chúng con.

Hôm nay là ngày… tháng… năm… Đệ tử con tên là……………. ở tại……………. Con có người thân là (bố, mẹ,…)…… mất ngày… tháng… năm… phần mộ an táng tại nơi đây…. Gia đình chúng con dự định vào ngày… tháng… năm… sẽ sang cát cho: (bố, mẹ,…)…… . Con xin chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con, chư Thiên, chư Thần Linh, thổ địa, đẳng đẳng chư Thần ủng hộ cho gia đình chúng con tất cả các công việc được hanh thông, viên mãn.

Con xin nương oai lực Tam Bảo, hạnh nguyện độ sinh và độ cho vong linh của chư Tăng chùa… (Ba Vàng…), con xin thỉnh mời vong linh: (bố, mẹ,…)…… chứng giám cho tâm thành của con mà hoan hỷ cho con.

Hôm nay chúng con sắm sửa hương hoa, vật thực thành tâm dâng cúng. Chúng con biết chư Phật không thọ thực, nhưng chúng con cũng xin thỉnh Chư Phật chứng minh cho lòng thành kính của chúng con, sau chúng con xin dâng cúng vật thực này tới cho chư Thiên, chư Thần, thừa oai lực Phật xin phổ tế tới cho vong linh: (bố, mẹ,…)…… được về đây thọ thực. Chúng con cũng xin được mời tất cả các vong linh ở tại nơi địa cuộc nghĩa trang này, được nương oai lực Tam Bảo thọ phần dâng cúng của con. Nguyện cho các hương linh được nương sự bố thí trong lễ cúng này của con mà được thọ thực no đủ.

Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha nga đá phả rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng (7 lần).
Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha (7 lần).
Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng (7 lần).

(Nếu Phát tâm cúng dường Tam Bảo về chùa thì đọc tiếp, nếu không cúng dường thì không đọc và tiếp tục Phần LỄ)

Nhân duyên hôm nay ngày… tháng… năm…, chúng con muốn tạ ân đến chư Thiên, chư Thần, nên xin cúng dường Tam Bảo để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần tăng phúc phẩm, hộ trì cho chúng con cùng các vong linh và con muốn cho các vong linh bớt khổ nên chúng con thành tâm cúng dường tịnh tài (tiền) để hộ độ cho Tăng chúng tu hành tại chùa… (nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh) với tâm nguyện cho chư Tăng được tứ sự như ý phù hợp với việc tu tập để hồi hướng công đức cúng dường của chúng con đến chư Thiên, chư Thần Linh, cùng các vong linh.

Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần Linh tại nơi nghĩa trang…
Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư hương linh: (bố, mẹ,…)…….
Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư hương linh tại nơi địa cuộc nghĩa trang có duyên trong buổi lễ hôm nay.

Con xin lễ Phật và tụng bài kinh BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC, con xin chư Phật gia hộ, chư Thiên, Thiện Thần ủng hộ cho chúng con cùng các vong linh được cùng chúng con tu tập và hiểu nghĩa lý để tu tâm chuyển hoá nghiệp lực.

3. Lễ:

Chí tâm đảnh lễ tất cả chư Phật ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).
Chí tâm đảnh lễ tất cả Chính Pháp ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).
Chí tâm đảnh lễ tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).

4. Tụng Kinh

Kinh Bát Đại Nhân Giác

Là người đệ tử Phật, ngày đêm nên chí tâm, nhớ nghĩ và tư duy, về tám điều giác ngộ, của các bậc Đại nhân.

Điều Giác Ngộ Thứ Nhất:
Thế gian vốn vô thường, cõi nước rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã, luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là nguồn việc ác, thân là rừng nghiệp tội, nếu quán sát như thế, dần dần lìa sinh tử.

Điều Giác Ngộ Thứ Hai:
Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục khởi, nếu ít muốn biết đủ, thân tâm được tự tại.

Điều Giác Ngộ Thứ Ba:
Tâm nếu không biết đủ, chỉ lo việc tham cầu, sẽ tăng thêm tội ác, Bồ Tát không như vậy, thường nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy tuệ làm sự nghiệp.

Điều Giác Ngộ Thứ Tư:
Lười biếng phải sa đọa, nên thường hành tinh tấn, để phá phiền não ác, chiết phục cả bốn ma, ra khỏi ngục ấm giới.

Điều Giác Ngộ Thứ Năm:
Ngu si phải sinh tử, nên Bồ Tát thường nhớ, luôn học rộng nghe nhiều, để tăng trưởng trí tuệ, và thành tựu biện tài, rồi đem niềm vui lớn, giáo hóa cho tất cả.

Điều Giác Ngộ Thứ Sáu:
Nghèo khổ hay oán hờn, thường kết nhiều duyên ác, Bồ Tát hành bố thí, bình đẳng với oán thân, không nhớ đến lỗi cũ, không ghét bỏ người ác.

Điều Giác Ngộ Thứ Bảy:
Năm dục là tai họa, thân dẫu ở cõi tục, nhưng không nhiễm dục lạc, thường nhớ nghĩ ba y, bình bát và pháp khí, chí nguyện người xuất gia, luôn giữ đạo trong sạch, thực hành hạnh thanh tịnh, từ bi với tất cả.

Điều Giác Ngộ Thứ Tám:
Sinh tử luôn thiêu đốt, khổ não thật vô biên, nên phát tâm Bồ đề, tu hành cầu Thánh đạo, cứu độ khắp tất cả, nguyện thay thế chúng sinh, gánh chịu vô lượng khổ, khiến cho tất cả loài, đều được đại an lạc.

Tám điều nói trên đây, chư Phật và Bồ Tát, đã tự từng giác ngộ, và tinh tấn hành đạo, tu từ bi trí tuệ, nương theo thuyền Pháp thân, đến nơi bờ Niết bàn, rồi trở lại sinh tử, độ thoát các chúng sinh, cũng đem tám điều này, chỉ dạy cho tất cả, khiến mọi loài chúng sinh, biết được sinh tử khổ, xa lìa năm món dục, tu tâm theo Thánh đạo. Nếu người đệ tử Phật, tư duy tám điều này, sẽ ở trong mỗi niệm, diệt được vô lượng tội, thẳng tiến đến Bồ đề, mau thành tựu Chính giác, dứt hẳn đường sinh tử, thường an trú tịnh lạc.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

5. Phục Nguyện

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Đệ tử con xin đem công đức này hồi hướng cho gia đình chúng con được tiêu trừ ác nghiệp, tăng trưởng phúc lành, công việc hanh thông, mạnh khoẻ bình an, các sự cát tường, con lại nguyện cho vong linh… cùng các vong linh có duyên hôm nay sớm được tu theo chính Pháp của Phật, sớm được siêu thoát. Con xin thỉnh mời vong linh: (bố, mẹ,…)…… về nhà, cùng con nghe kinh, thính Pháp để tăng trưởng phúc lành, đến ngày… tháng… năm… chúng con xin được sang cát phần mộ cho: (bố, mẹ,…)…… để di chuyển sang…. (tại khu đất đặt mộ mới), con xin: (bố, mẹ,…)…… hoan hỷ.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
Nam Mô A Di Đà Phật!

6. Tam Tự Quy

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng (1 lễ).
Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lễ).
Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại (1 lễ).

HẾT BƯỚC 1
(Khi lễ xong thì hạ lễ, lễ đó dùng để ăn được)

Bước 2: Làm Lễ Tại Khu Đất Đặt Mộ Mới

(Động thổ xây mộ hoặc đã có huyệt từ trước).

1. Sắm Lễ:

Hương, hoa quả (loại quả thì tuỳ ý và không quy định số lượng là bao nhiêu), nước trắng, xôi hoặc bát cơm trắng, bánh kẹo tuỳ ý. Đặt tiền trên mộ (tuỳ ý).

2. Bài Khấn:

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Nam Mô A Di Đà Phật! Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con. Con xin thỉnh mời chư Thiên, chư Thần Linh, thổ địa, đẳng đẳng chư Thần quang giáng về nơi đây ủng hộ cho chúng con.

Hôm nay là ngày… tháng… năm… Đệ tử con là……………. ở tại……………. Con có người thân là: (bố, mẹ,…)…… mất ngày… tháng… năm… phần mộ an táng tại…. Gia đình chúng con dự định vào ngày… tháng… năm… sẽ sang cát và chuyển phần mộ của: (bố, mẹ,…)…… con về an táng tại nơi đây, (hôm nay con xin động thổ xây huyệt mộ), con xin chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con, chư Thiên, chư Thần Linh, thổ địa, đẳng đẳng chư Thần ủng hộ cho gia đình chúng con tất cả các công việc được hanh thông, viên mãn, vì chúng con là người trần mắt thịt, không thấy, không hay, không biết, nơi đất này có phần mộ của ai bị lấp sâu xuống dưới hay chưa, cũng không biết phần đất này đã thuộc về các vong linh nào ở trước hay chưa. Nay con xin nương oai lực Tam Bảo, hạnh nguyện độ sinh và độ cho vong linh của chư Tăng chùa:… (Ba Vàng,…) con xin thành tâm thỉnh mời các vong linh đã có duyên trước trên mảnh đất này về đây chứng giám cho tâm thành của con mà hoan hỷ cho chúng con. Chúng con xin được cúng lễ và cũng phát tâm cúng dường Tam Bảo, hồi hướng công đức phúc lành đó đến cho các vong linh, xin các vong linh hoan hỉ, để đến ngày… tháng… năm…, con xin đưa phần mộ của: (bố, mẹ,…)…… về an táng đặt tại nơi đây.

Hôm nay chúng con sắm sửa hương hoa vật thực thành tâm dâng cúng, chúng con biết chư Phật không thọ thực, nhưng chúng con cũng xin thỉnh Chư Phật chứng minh cho lòng thành kính của chúng con, sau chúng con xin dâng cúng vật thực này tới cho chư Thiên, chư Thần, thừa oai lực Phật xin phổ tế tới cho vong linh có duyên tại nơi đất này, được về đây thọ thực. Chúng con cũng xin được mời tất cả các vong linh ở tại nơi địa cuộc nghĩa trang này, được nương oai lực Tam Bảo thọ phần dâng cúng của chúng con. Nguyện cho các hương linh được nương sự bố thí trong lễ cúng này của chúng con mà được thọ thực no đủ.

– Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha nga đá phả rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng (7 lần).
Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha (7 lần).
Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng (7 lần).

(Nếu phát tâm cúng dường Tam Bảo về chùa thì đọc tiếp, nếu không cúng dường thì không đọc và tiếp tục Phần LỄ)

Nhân duyên hôm nay là ngày… tháng… năm… chúng con muốn tạ ân đến chư Thiên, chư Thần, nên xin cúng dường Tam Bảo để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần tăng phúc phẩm, hộ trì cho con cùng các vong linh và con muốn cho các vong linh bớt khổ, nên chúng con thành tâm cúng dường tịnh tài (tiền) để hộ độ cho Tăng chúng tu hành tại chùa… (nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, TP Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh) với tâm nguyện cho chư Tăng được tứ sự như ý phù hợp với việc tu tập để hồi hướng công đức cúng dường của chúng con đến chư Thiên, chư Thần Linh, cùng các vong linh.

Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần Linh tại nơi nghĩa trang…
Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư hương linh có duyên tại nơi đất này.

Con xin lễ Phật và tụng bài kinh BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC, con xin chư Phật gia hộ, chư Thiên, Thiện Thần ủng hộ cho chúng con cùng các vong linh được cùng chúng con tu tập và hiểu nghĩa lý để tu tâm chuyển hoá nghiệp lực.

3. Lễ:

Chí tâm đảnh lễ tất cả chư Phật ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).
Chí tâm đảnh lễ tất cả Chính Pháp ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).
Chí tâm đảnh lễ tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).

4. Tụng Kinh

Kinh Bát Đại Nhân Giác

Là người đệ tử Phật, ngày đêm nên chí tâm, nhớ nghĩ và tư duy, về tám điều giác ngộ, của các bậc Đại nhân.

Điều Giác Ngộ Thứ Nhất:
Thế gian vốn vô thường, cõi nước rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã, luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là nguồn việc ác, thân là rừng nghiệp tội, nếu quán sát như thế, dần dần lìa sinh tử.

Điều Giác Ngộ Thứ Hai:
Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục khởi, nếu ít muốn biết đủ, thân tâm được tự tại.

Điều Giác Ngộ Thứ Ba:
Tâm nếu không biết đủ, chỉ lo việc tham cầu, sẽ tăng thêm tội ác, Bồ Tát không như vậy, thường nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy tuệ làm sự nghiệp.

Điều Giác Ngộ Thứ Tư:
Lười biếng phải sa đọa, nên thường hành tinh tấn, để phá phiền não ác, chiết phục cả bốn ma, ra khỏi ngục ấm giới.

Điều Giác Ngộ Thứ Năm:
Ngu si phải sinh tử, nên Bồ Tát thường nhớ, luôn học rộng nghe nhiều, để tăng trưởng trí tuệ, và thành tựu biện tài, rồi đem niềm vui lớn, giáo hóa cho tất cả.

Điều Giác Ngộ Thứ Sáu:
Nghèo khổ hay oán hờn, thường kết nhiều duyên ác, Bồ Tát hành bố thí, bình đẳng với oán thân, không nhớ đến lỗi cũ, không ghét bỏ người ác.

Điều Giác Ngộ Thứ Bảy:
Năm dục là tai họa, thân dẫu ở cõi tục, nhưng không nhiễm dục lạc, thường nhớ nghĩ ba y, bình bát và pháp khí, chí nguyện người xuất gia, luôn giữ đạo trong sạch, thực hành hạnh thanh tịnh, từ bi với tất cả.

Điều Giác Ngộ Thứ Tám:
Sinh tử luôn thiêu đốt, khổ não thật vô biên, nên phát tâm Bồ đề, tu hành cầu Thánh đạo, cứu độ khắp tất cả, nguyện thay thế chúng sinh, gánh chịu vô lượng khổ, khiến cho tất cả loài, đều được đại an lạc.

Tám điều nói trên đây, chư Phật và Bồ Tát, đã tự từng giác ngộ, và tinh tấn hành đạo, tu từ bi trí tuệ, nương theo thuyền Pháp thân, đến nơi bờ Niết bàn, rồi trở lại sinh tử, độ thoát các chúng sinh, cũng đem tám điều này, chỉ dạy cho tất cả, khiến mọi loài chúng sinh, biết được sinh tử khổ, xa lìa năm món dục, tu tâm theo Thánh đạo. Nếu người đệ tử Phật, tư duy tám điều này, sẽ ở trong mỗi niệm, diệt được vô lượng tội, thẳng tiến đến Bồ đề, mau thành tựu Chính giác, dứt hẳn đường sinh tử, thường an trú tịnh lạc.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

5. Phục Nguyện

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Đệ tử con xin đem công đức này hồi hướng cho gia đình chúng con được tiêu trừ ác nghiệp, tăng trưởng phúc lành, công việc hanh thông, mạnh khoẻ bình an, các sự cát tường, con lại nguyện cho vong linh… cùng các vong linh có duyên hôm nay sớm được tu theo chính Pháp của Phật, sớm được siêu thoát, các công việc sang cát được thành tựu tốt đẹp.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Nam Mô A Di Đà Phật!

6. Tam Tự Quy

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng (1 lễ).
Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lễ).
Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại (1 lễ).

HẾT BƯỚC 2
(Nếu động thổ để xây huyệt mộ thì bắt đầu làm, hạ lễ, lễ đó dùng để ăn được)

Bước 3: Làm Lễ Tại Nhà

1. Sắm Lễ

Hương, hoa quả, mâm cơm chay, sữa tươi. Đặt tiền trên bàn thờ gia tiên. Nếu nhà ai có bàn thờ Phật, thì sắm lễ trên bàn thờ Phật riêng.

2. Bài Khấn

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Nam Mô A Di Đà Phật! Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con. Con xin thỉnh mời chư Thiên, chư Thần Linh, thổ địa, đẳng đẳng chư Thần quang giáng về nơi đây ủng hộ cho chúng con.

Hôm nay là ngày… tháng… năm… Đệ tử con là……………. ở tại……………. Con có người thân là: (bố, mẹ,…)…… mất ngày… tháng… năm… phần mộ an táng tại……………. gia đình chúng con dự định vào ngày… tháng… năm… sẽ sang cát và chuyển phần mộ: (bố, mẹ,…)…… con về an táng tại……………., con xin chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con; chư Thiên, chư Thần Linh, thổ địa, đẳng đẳng chư Thần ủng hộ cho gia đình chúng con tất cả các công việc được hanh thông, viên mãn.

Hôm nay chúng con sắm sửa hương hoa vật thực thành tâm dâng cúng, chúng con biết chư Phật không thọ thực, nhưng chúng con cũng xin thỉnh Chư Phật chứng minh cho lòng thành kính của chúng con, sau chúng con xin dâng cúng vật thực này tới cho chư Thiên, chư Thần, thừa oai lực Phật xin phổ tế tới cho vong linh gia tiên tiền tổ, cùng vong linh bố mẹ và các vong linh trên đất ở của chúng con, được về đây thọ thực cùng nghe kinh thính Pháp. Nguyện cho các hương linh được nương sự bố thí trong lễ cúng này của con mà được thọ thực no đủ.

– Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha nga đá phả rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng (7 lần).
Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha (7 lần).
– Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng (7 lần).

(Nếu Phát tâm cúng dường Tam Bảo về chùa thì đọc tiếp, nếu không cúng dường thì không đọc và tiếp tục Phần LỄ)

Nhân duyên hôm nay là ngày… tháng… năm…, chúng con muốn tạ ân đến chư Thiên, chư Thần, nên xin cúng dường Tam Bảo để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần tăng phúc phẩm, hộ trì cho con cùng các vong linh và con muốn cho các vong linh bớt khổ, nên chúng con thành tâm cúng dường tịnh tài (tiền) để hộ độ cho Tăng chúng tu hành tại chùa… (nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, TP Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh) với tâm nguyện cho chư Tăng được tứ sự như ý phù hợp với việc tu tập để hồi hướng công đức cúng dường của chúng con đến chư Thiên, chư Thần Linh, cùng các vong linh.

Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần Linh tại nơi nghĩa trang…
Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư vong linh gia tiên tiền tổ và vong linh: (bố, mẹ,…)…… cùng các vong linh trong nơi đất ở của gia đình con.

Con xin lễ Phật tụng kinh, con xin chư Phật gia hộ, chư Thiên, Thiện Thần ủng hộ cho con cùng các vong linh hoan hỷ nhận phúc và được cùng con tu tập, hiểu nghĩa lý để tu tâm chuyển hoá nghiệp lực

3. Lễ

Chí tâm đảnh lễ tất cả chư Phật ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).
Chí tâm đảnh lễ tất cả chính Pháp ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).
Chí tâm đảnh lễ tất cả Tăng bậc hiền Thánh ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).

4. Tụng Kinh

(Ngồi tụng kinh)

Kinh Vô Thường

Cúi đầu quy y Vô Thượng Sĩ
Thường khởi hoằng thệ đại bi tâm
Cứu các hữu tình qua sanh tử
Tới được tịch diệt chốn bình an

Đại thí trì giới, nhẫn, tinh tấn
Nhất tâm phương tiện chánh tuệ lực
Tự lợi lợi tha thảy viên mãn
Nên gọi Điều Ngự Thiên Nhân Sư

Cúi đầu quy y diệu Pháp tạng
Ba Bốn, hai Năm, lý viên minh
Bảy, Tám, khéo mở cửa Bốn Đế
Hành giả thảy đến bờ vô vi

Mây Pháp mưa Pháp thấm chúng sanh
Khéo trừ nhiệt não sạch chúng bệnh
Ai khó giáo hóa khiến điều phục
Tùy cơ dẫn đạo không cưỡng ép

Cúi đầu quy y chân Thánh chúng
Tám bậc thượng nhân khéo ly nhiễm
Chày trí kim cang phá tà sơn
Vĩnh đoạn vô thỉ siết trói buộc

Xưa từ Lộc Uyển đến Song Lâm
Theo Phật trọn đời hoằng chân giáo
Mỗi tùy bổn duyên hành hóa xong
Tro thân diệt trí tịch vô sanh

Cúi đầu cung kính Tam Bảo tôn
Đây là chánh nhân khéo phổ độ
Mê ngu chìm đắm nơi sanh tử
Thảy khiến ra khỏi đến tịch diệt

Mọi người sanh ra đều phải chết
Dung nhan tươi đẹp sẽ tàn phai
Mạnh khỏe rồi thì cũng mắc bệnh
Chẳng một ai nào thoát miễn đâu

Thậm chí cho dù núi Diệu Cao
Đến khi kiếp tận đều hoại diệt
Biển lớn sâu thẳm không bờ đáy
Nhưng rồi cũng phải khô cạn thôi

Đại địa mặt trời với mặt trăng
Tới lúc nào đó cũng tận diệt
Xưa nay chưa từng có việc gì
Không bị vô thường nuốt chửng đâu

Trên lên tận cõi Phi Phi Tưởng
Dưới đến thế gian vua Chuyển Luân
Bảy báu uy trấn theo bên mình
Hàng ngàn con trai luôn vây quanh

Nhưng khi thọ mạng đã chấm dứt
Vụt thoáng hốt nhiên chẳng tạm đình
Trở lại phiêu dạt trong biển tử
Chịu nỗi thống khổ tùy nghiệp duyên

Tuần hoàn xoay vần trong ba cõi
Ví như trục quay múc nước giếng
Cũng như con tằm làm tổ kén
Nhả tơ vây bọc nhốt chính mình

Dù đến vô thượng chư Thế Tôn
Và hàng Thanh Văn bậc Độc Giác
Còn phải xả bỏ thân vô thường
Hà huống phàm phu có thá chi

Song thân cha mẹ với vợ con
Tỷ muội huynh đệ cùng quyến thuộc
Mắt thấy chia lìa cảnh sống chết
Sao lại không sầu khóc thở than?

Cho nên khuyên bảo với mọi người
Hãy lắng nghe kỹ Pháp chân thật
Rồi cùng xả bỏ chốn vô thường
Và hãy thực hành Bất Tử Môn

Phật Pháp ví như nước cam lộ
Diệt trừ nhiệt não được mát mẻ
Vì vậy nhất tâm hãy lắng nghe
Có thể tiêu trừ mọi não phiền

Tôi Nghe Như Vầy:
Một thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, trong rừng cây Chiến Thắng gần thành Phong Đức.
Khi ấy Phật bảo các vị Bhikṣu [đọc là Bíc su] rằng:
“Ở thế gian có ba thứ mà không thể yêu mến, không thể xán lạn, không thể nhớ mong, và không thể vừa ý. Những gì là ba?
Đó là Già, Bệnh, Chết.
Này các vị Bhikṣu! Già, Bệnh, Chết ở thế gian, thật không thể yêu mến, thật không thể xán lạn, thật không thể nhớ mong, và thật không thể vừa ý.
Nếu không có Già, Bệnh, Chết ở thế gian, thì Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác, sẽ không xuất hiện ở thế gian để thuyết Pháp mà Ngài đã chứng đắc và phương pháp điều phục.
Cho nên phải biết rằng, Già, Bệnh, Chết ở thế gian, thật không thể yêu mến, thật không thể xán lạn, thật không thể nhớ mong, và thật không thể vừa ý. Do bởi ba việc này nên Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác, mới xuất hiện ở thế gian để thuyết Pháp mà Ngài đã chứng đắc và phương pháp điều phục.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn dùng kệ tuyên lại rằng:
“Ngoại sự huy hoàng rồi sẽ hoại
Nội thân suy biến cũng thế thôi
Duy có thắng Pháp chẳng diệt vong
Cho nên người trí hãy ngẫm suy

Già, Bệnh, Chết này đều cùng gớm
Hình dáng xấu xí thật đáng ghét
Dung mạo thanh xuân chỉ tạm thời
Không lâu tất sẽ khô héo phai

Cho dù sống đến trọn trăm năm
Kết cục chẳng thể thoát vô thường
Già, Bệnh, Chết khổ mãi đuổi theo
Luôn cho chúng sanh vô ích lợi”

Khi Thế Tôn thuyết Kinh này xong, các vị Bhikṣu, trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên cùng hết thảy đại chúng, họ đều sanh tâm đại hoan hỷ và tín thọ phụng hành.

Ai luôn cầu cảnh dục
Chẳng chịu làm việc lành
Không thấy chết cận kề
Làm sao hộ tánh mạng?

Khi mạng căn sắp đứt
Đốt xương thảy phân ly
Khổ ách cùng chết đến
Lúc ấy hận ngậm ngùi

Hai mắt trợn trắng lên
Tử đao nghiệp lực giáng
Ý tưởng đầy kinh hoàng
Chẳng ai tương cứu giúp

Hổn hển ngực đập nhanh
Cổ khô thở đứt quãng
Tử thần đòi lấy mạng
Thân thuộc đành đứng trông

Các thức đều mờ mịt
Đi vào trong thành hiểm
Thân quyến thảy rời bỏ
Dây siết lôi kéo đi

Dẫn đến chỗ Diêm Vương
Tùy nghiệp mà thọ báo
Nhân thiện sanh chốn lành
Nghiệp ác đọa địa ngục

Mắt sáng nào bằng tuệ
Tối tăm nào bằng si
Có bệnh nào hơn oán
Có sợ nào hơn chết

Có sanh ắt phải chết
Tạo tội thân chịu khổ
Hãy nên giữ ba nghiệp
Luôn mãi tu phước trí

Quyến thuộc đều rời xa
Tài vật người chiếm đoạt
Chỉ căn lành của mình
Tư lương nơi hiểm đạo

Như cây bên ven đường
Tạm nghỉ chẳng ở lâu
Ngựa xe cùng vợ con
Không lâu cũng như vậy

Như chim đậu qua đêm
Sáng sớm bay mỗi hướng
Chết đến lìa thân quyến
Biệt ly cũng như vậy

Duy Phật có đại giác
Là nơi chân quy y
Y Kinh ta lược giảng
Người trí hãy tư duy

Trời người phi thiên quỷ tiệp tật
Người đến nghe Pháp nên chí tâm
Hộ trì Phật Pháp khiến trường tồn
Mỗi người cần hành lời Phật dạy

Chúng sanh đến đây lắng nghe Pháp
Hoặc ở trên đất hay không trung
Thường vì nhân thế khởi từ tâm
Ngày đêm tự mình trụ nơi Pháp

Nguyện các thế giới luôn bình an
Vô biên phước trí lợi chúng sanh
Bao nhiêu nghiệp tội thảy tiêu trừ
Rời xa khổ ách về tịch diệt

Luôn dùng giới hương thoa tịnh thể
Thường mang thiền định khoác vào thân
Tuệ giác diệu hoa biến trang nghiêm
Tùy nơi trú xứ thường an lạc.

Bài Kinh: CÚNG LINH
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ V, Chương 10, Phần Janussoni,
VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.595)

Một thời, Thế Tôn ở tại trú xứ của Bà la môn Cha-nu-sô-ni (Janussoni). Sau khi đi đến cung kính đảnh lễ, hỏi thăm và ngồi xuống một bên, Bà la môn Cha-nu-sô-ni (Janussoni) bạch Thế Tôn:
– Thưa tôn giả Gotama, chúng tôi bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng, các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng sự bố thí này! Thưa tôn giả Go-ta-ma, bố thí như thế có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng sự bố thí ấy hay không?
– Này các Bà la môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích; không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ. Ở đây, này Bà la môn, những người nào… sau khi thân hoại mạng chung sinh vào địa ngục, sinh vào loại bàng sinh, sinh cộng trú với loài người, sinh cộng trú với chư Thiên. Những vị này, được nuôi sống và tồn tại với những món ăn ứng với cảnh giới của các vị ấy. Này Bà la môn, đây là không tương ưng xứ; trú ở những nơi ấy, các vị ấy không được sự lợi ích của bố thí ấy. Nhưng ở đây, này Bà la môn, người nào sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi ngạ quỷ. Vị ấy được nuôi sống và tồn tại với các món ăn tại đấy. Món ăn nào, các bạn bè, thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống muốn hướng cúng cho vị ấy; tại đấy, vị ấy sống với món ăn đó, tồn tại với món ăn đó. Này Bà la môn, đây là tương ưng xứ; trú nơi đây, vị ấy được sự lợi ích của sự bố thí ấy.

Bài Kinh: Tế Đàn
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, Chương 4, Phẩm Bánh Xe, phần Ujjaya, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.629)

Một thời, Thế Tôn ở Thành Vương Xá (Rājagaha), rồi Bà La Môn Ujjaya đi đến đảnh lễ, ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn:
– Có phải tôn giả Gotama không tán thán tế đàn?
– Này Bà La Môn, ta không phải không tán thán tất cả các loại tế đàn. Những loại tế đàn nào, này Bà La Môn, bò bị giết, dê cừu bị giết, gà heo bị giết, các loài sinh vật khác đi đến bị giết hại. Loại tế đàn ấy, này Bà La Môn, liên hệ đến sát sinh, ta không tán thán loại tế đàn ấy. Những loại tế đàn có sát sinh như vậy, này Bà La Môn, các A La Hán và những ai đi trên con đường hướng đến A La Hán không có đi đến.
Này Bà La Môn, tại những tế đàn nào, trong ấy không có bò bị giết, không có dê cừu bị giết, không có gà heo bị giết, không có các loài sinh vật khác bị giết hại. Này Bà La Môn, ta tán thán loại tế đàn không có sát sinh như vậy, tức là làm bố thí, tế đàn cầu hạnh phúc cho gia đình. Những loại tế đàn không có sát sinh như vậy, này Bà La Môn, các A La Hán và những ai đi trên con đường hướng đến A La Hán, có đi đến.
Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (1 xá)

Trích Đoạn Bài Kinh: Veluvana (Chuyện Ngạ Quỷ Ngoại Bức Tường)

(Cúng dường hồi hướng ngạ quỷ được sinh thiên – trích đoạn)

Buổi chiều, Đức Vua Bình Sa Vương (Seniya BimBisara) và tùy tùng lại đến, ông thưa trình một việc quan trọng:

  • Bạch Đức Tôn Sư! Đêm qua, đệ tử nằm mơ, mà y như thật, có một bầy ma quỷ, đông lúc nhúc, hiện đến bên giường, ỉ ôi, tỉ tê than khóc, chúng la to những tiếng rất kỳ dị, đệ tử không hiểu nổi ngôn ngữ ấy! m thanh lắp bắp không được rõ ràng cho lắm, dường như là: “Mayamassu Dukkhita Peta…” thì phải! Nghe xong, đệ tử bèn hỏi: “Quý vị là ai? Đến khóc lóc với ta như vậy là có ý gì?” Thế rồi, chúng hiện hình cho đệ tử thấy. Thật là ghê sợ. Thân hình của chúng chỉ là những bộ xương khô được bao bên ngoài một lớp da mỏng màu sắm, màu xanh đen, màu tím bầm trông rất quái dị. Đứa cao thì cao như cây thốt nốt, như cây tre gai; Thấp thì như đứa trẻ lên ba, như cây xương rồng không gai. Đầu của chúng như những trái bầu non phơi khô, mắt của chúng thụt sâu vào bên trong như những cái hố đầy máu, đầy ghèn; Cổ nhỏ và dài như cây kim, như cọng rơm; Tóc dài như chùm cỏ dích bùn gớm ghiếc thả xuống tận lưng, tận bụng, bụng là những cái trống cơm, trống chầu… Chúng không có áo quần, và có lẽ đã không có gì ăn từ muôn triệu kiếp rồi. Thật là kinh khiếp, ghê sợ nhưng cũng thật là đáng thương hại! Bạch Đức Thế Tôn! Chúng là ai? Và bây giờ chúng đệ tử phải làm gì?
  • Như Lai biết! Đức Phật mỉm cười – Và còn biết nhiều hơn thế nữa! Cái câu mà đại vương nghe không rõ, có nghĩa là chúng ngạ quỷ than khổ, than đói! Việc này không những liên quan đến đại vương mà còn nhân duyên với ba Thầy Ca Diếp (Kassapa) cùng một ngàn vị Tỳ – Khưu ở đây nữa!

Vào thời Đức Phật Ca Diếp (Kassapa), vị Phật có trước Như Lai, thấy rõ nhân duyên tội báo của chúng ngạ quỷ ấy, đã có nói với chúng rằng: “Khi nào trên địa cầu này xuất hiện một vị Chánh Đẳng Chánh Giác hiệu là Đức Phật Thích Ca (Sakya Gotama),… thì có vị vua nước Ma Kiệt Đà (Magadha), tên là Bình Sa Vương (Seniya Bimbisara). Các ngươi (chúng ngạ quỷ) vốn là quyến thuộc của đức vua anh minh ấy, và chỉ có oai lực công đức của đức vua ấy mới có khả năng cứu các ngươi khỏi khổ, khỏi đói, khỏi rét lạnh của kiếp ngạ quỷ mà thôi!
Đức Phật kể chuyện xong, ai cũng lạnh cả người. Trong hội chúng Thánh nhân chưa ai có khả năng túc mạng thông nhớ đến nhiều kiếp quả địa cầu như Đức Phật nên bây giờ họ mới thấy rõ nhân duyên từ quá khứ như thế nào!

Đức vua Bình Sa Vương bàng hoàng, im lặng giây lâu:

  • Bạch Đức Thế Tôn! Đệ tử đâu có biết mình có oai lực công đức gì mà cứu họ?
  • Có đấy! Đức Phật mỉm cười: chúng ngạ quỷ không ăn được vật thực của loài người, không mặc được những tấm sari gấm vóc, tơ lụa của nhân gian! Chúng chỉ ăn và mặc được cái phước mà thân nhân quyến thuộc hồi hướng đến cho họ! Đại vương có khả năng thiết lễ đặt bát vật thực, cúng dường vải vóc đến Tăng chúng rồi sau khi thọ nhận, Tăng chúng sẽ chú nguyện, hồi hướng phúc báu ấy đến cho chúng ngạ quỷ! Cúng dường vật thực thì chúng ngạ quỷ sẽ được ăn no, cúng dường vải vóc thì chúng ngạ quỷ sẽ được mặc ấm! Chúng ngạ quỷ ấy vốn là quyến thuộc của đại vương, thì chỉ có oai lực đại vương mới cứu họ được; Như Lai và Thánh chúng chỉ làm phận sự của người đưa thư, nhận phước và trao phước mà thôi vậy!

Quỳ lạy năm vóc sát đất, đức vua Bình Sa Vương thốt lên:
– Ôi! Kỳ diệu làm sao, bạch đức Thế Tôn! Đệ tử sẽ hoan hỉ phát tâm thiết lễ đặt bát vật thực, cúng dường vải vóc, nhiều loại lễ phẩm phụ tùy khác đến đức Tôn Sư cùng Tăng chúng Thánh Hạnh suốt một tuần lễ tại hoàng cung. Ngoài ra, đệ tử cũng xin phát nguyện kiến thiết xây dựng toàn bộ khu Trúc Lâm này. Đệ tử sẽ cho làm ngay vài ngàn cốc liêu, đại giảng đường, thiền đường, nhà khách, nhà ăn, các công trình phụ về vệ sinh, nhà tắm, sân bãi, vườn cảnh, lối đi kinh hành, nhà kho, trạm xá… đâu đấy đều chu đáo và hoàn chỉnh để dâng cúng đến đức Tôn Sư và giáo đoàn, hy vọng sẽ phát triển lớn mạnh trong nay mai nữa! Hạnh phúc thay khi được làm người hộ pháp cho giáo pháp bất tử!

Đức Phật mở lời tán thán công đức vĩ đại của nhà vua, đồng thời ngợi khen mô hình phác thảo tịnh xá Trúc Lâm như là công trình tôn giáo có giá trị thế kỷ tại đất nước này vậy.

Sau chỉ một ngày làm phước, cúng dường Đức Phật và Thánh chúng như ý muốn, đêm ấy nhà vua nằm mộng thấy các vị trời rất cao sang và xinh đẹp, đồng hiện đến để tri ân và báo tin cho ông hay là họ đã no đủ, đã sung sướng, đã thoát kiếp ngạ quỷ, sinh làm chư Thiên ở trong sự cai quản của Tứ Đại Thiên Vương. Ngày hôm sau, với tâm trạng lâng lâng, nhà vua đến bạch Phật kể lại câu chuyện; Nhân tiện, suốt cả sáu ngày liên tiếp, Đức Phật thuyết về các cảnh giới, lần lượt trình bày về nhân về quả từ Địa ngục cho đến cõi trời Phi phi tưởng. Sau thời pháp, lệnh bà Vi-đề-hy (Videhi) và hằng trăm người khác đắc quả Tu-đà-hoàn.”

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni (3 lần).

5. Mười Hạnh Phổ Hiền

Đệ tử chúng con tùy thuận tu tập theo mười nguyện lớn của đức Phổ Hiền Bồ Tát:
Một là kính lễ chư Phật
Hai là xưng tán Như Lai
Ba là rộng tu cúng dường
Bốn là sám hối nghiệp chướng
Năm là tùy hỷ công đức
Sáu là thỉnh Phật chuyển Pháp
Bảy là thỉnh Phật trụ thế
Tám là thường theo học Phật
Chín là hằng thuận chúng sinh
Mười là hồi hướng khắp tất cả.

6. Phục Nguyện

(Quỳ đọc cho đến hết)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni phục nguyện!
Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con; chư vị Hộ Pháp, Thiện Thần, Thần Linh ủng hộ cho chúng con. Con xin hồi hướng công đức tu tập và phúc báo cúng dường hôm nay đến cho gia đình chúng con được tiêu trừ ác nghiệp, được… (nói tâm mong cầu của mình…), được thuận duyên trong các công việc để an ổn tu tập theo Pháp của người Phật tử tại gia. Con cũng xin hồi hướng công đức tu hành cùng phúc báo phát nguyện cúng dường hôm nay cho các vong linh, để các vong linh sẽ cùng với con từ nay cho tới vô lượng kiếp về sau được tu tập theo giáo Pháp của Phật, cho tới ngày được thành Phật. Nguyện cho công việc sang cát phần mộ của: (bố, mẹ,…)…… con được hanh thông kết quả được tốt đẹp.
Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

7. Tam Tự Quy

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng (1 lễ).
Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lễ).
Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại (1 lễ).

HẾT BƯỚC 3

B. Các Ngày Tiếp Theo Tụng Kinh Tại Nhà

Kinh Tụng

Bài Kinh: CÚNG LINH
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ V, Chương 10, Phần Janussoni,
VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.595)

Một thời, Thế Tôn ở tại trú xứ của Bà la môn Cha-nu-sô-ni (Janussoni). Sau khi đi đến cung kính đảnh lễ, hỏi thăm và ngồi xuống một bên, Bà la môn Cha-nu-sô-ni (Janussoni) bạch Thế Tôn:
– Thưa tôn giả Gotama, chúng tôi bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng, các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng sự bố thí này! Thưa tôn giả Go-ta-ma, bố thí như thế có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng sự bố thí ấy hay không?
– Này các Bà la môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích; không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ. Ở đây, này Bà la môn, những người nào… sau khi thân hoại mạng chung sinh vào địa ngục, sinh vào loại bàng sinh, sinh cộng trú với loài người, sinh cộng trú với chư Thiên. Những vị này, được nuôi sống và tồn tại với những món ăn ứng với cảnh giới của các vị ấy. Này Bà la môn, đây là không tương ưng xứ; trú ở những nơi ấy, các vị ấy không được sự lợi ích của bố thí ấy. Nhưng ở đây, này Bà la môn, người nào sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi ngạ quỷ. Vị ấy được nuôi sống và tồn tại với các món ăn tại đấy. Món ăn nào, các bạn bè, thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống muốn hướng cúng cho vị ấy; tại đấy, vị ấy sống với món ăn đó, tồn tại với món ăn đó. Này Bà la môn, đây là tương ưng xứ; trú nơi đây, vị ấy được sự lợi ích của sự bố thí ấy.

Trích Đoạn Kinh Veluvana (Chuyện Ngạ Quỷ Ngoại Bức Tường)

(Cúng dường hồi hướng ngạ quỷ được sinh thiên – trích đoạn)

Buổi chiều, Đức Vua Bình Sa Vương (Seniya BimBisara) và tùy tùng lại đến, ông thưa trình một việc quan trọng:

Bạch Đức Tôn Sư! Đêm qua, đệ tử nằm mơ, mà y như thật, có một bầy ma quỷ, đông lúc nhúc, hiện đến bên giường, ỉ ôi, tỉ tê than khóc, chúng la to những tiếng rất kỳ dị, đệ tử không hiểu nổi ngôn ngữ ấy! m thanh lắp bắp không được rõ ràng cho lắm, dường như là: “Mayamassu Dukkhita Peta…” thì phải! Nghe xong, đệ tử bèn hỏi: “Quý vị là ai? Đến khóc lóc với ta như vậy là có ý gì?” Thế rồi, chúng hiện hình cho đệ tử thấy. Thật là ghê sợ. Thân hình của chúng chỉ là những bộ xương khô được bao bên ngoài một lớp da mỏng màu sắm, màu xanh đen, màu tím bầm trông rất quái dị. Đứa cao thì cao như cây thốt nốt, như cây tre gai; Thấp thì như đứa trẻ lên ba, như cây xương rồng không gai. Đầu của chúng như những trái bầu non phơi khô, mắt của chúng thụt sâu vào bên trong như những cái hố đầy máu, đầy ghèn; Cổ nhỏ và dài như cây kim, như cọng rơm; Tóc dài như chùm cỏ dích bùn gớm ghiếc thả xuống tận lưng, tận bụng, bụng là những cái trống cơm, trống chầu… Chúng không có áo quần, và có lẽ đã không có gì ăn từ muôn triệu kiếp rồi. Thật là kinh khiếp, ghê sợ nhưng cũng thật là đáng thương hại! Bạch Đức Thế Tôn! Chúng là ai? Và bây giờ chúng đệ tử phải làm gì?

Như Lai biết! Đức Phật mỉm cười – Và còn biết nhiều hơn thế nữa! Cái câu mà đại vương nghe không rõ, có nghĩa là chúng ngạ quỷ than khổ, than đói! Việc này không những liên quan đến đại vương mà còn nhân duyên với ba Thầy Ca Diếp (Kassapa) cùng một ngàn vị Tỳ – Khưu ở đây nữa!

Vào thời Đức Phật Ca Diếp (Kassapa), vị Phật có trước Như Lai, thấy rõ nhân duyên tội báo của chúng ngạ quỷ ấy, đã có nói với chúng rằng: “Khi nào trên địa cầu này xuất hiện một vị Chánh Đẳng Chánh Giác hiệu là Đức Phật Thích Ca (Sakya Gotama),… thì có vị vua nước Ma Kiệt Đà (Magadha), tên là Bình Sa Vương (Seniya Bimbisara). Các ngươi (chúng ngạ quỷ) vốn là quyến thuộc của đức vua anh minh ấy, và chỉ có oai lực công đức của đức vua ấy mới có khả năng cứu các ngươi khỏi khổ, khỏi đói, khỏi rét lạnh của kiếp ngạ quỷ mà thôi!
Đức Phật kể chuyện xong, ai cũng lạnh cả người. Trong hội chúng Thánh nhân chưa ai có khả năng túc mạng thông nhớ đến nhiều kiếp quả địa cầu như Đức Phật nên bây giờ họ mới thấy rõ nhân duyên từ quá khứ như thế nào!

Đức vua Bình Sa Vương bàng hoàng, im lặng giây lâu:

Bạch Đức Thế Tôn! Đệ tử đâu có biết mình có oai lực công đức gì mà cứu họ?
Có đấy! Đức Phật mỉm cười: chúng ngạ quỷ không ăn được vật thực của loài người, không mặc được những tấm sari gấm vóc, tơ lụa của nhân gian! Chúng chỉ ăn và mặc được cái phước mà thân nhân quyến thuộc hồi hướng đến cho họ! Đại vương có khả năng thiết lễ đặt bát vật thực, cúng dường vải vóc đến Tăng chúng rồi sau khi thọ nhận, Tăng chúng sẽ chú nguyện, hồi hướng phúc báu ấy đến cho chúng ngạ quỷ! Cúng dường vật thực thì chúng ngạ quỷ sẽ được ăn no, cúng dường vải vóc thì chúng ngạ quỷ sẽ được mặc ấm! Chúng ngạ quỷ ấy vốn là quyến thuộc của đại vương, thì chỉ có oai lực đại vương mới cứu họ được; Như Lai và Thánh chúng chỉ làm phận sự của người đưa thư, nhận phước và trao phước mà thôi vậy!

Quỳ lạy năm vóc sát đất, đức vua Bình Sa Vương thốt lên:
Ôi! Kỳ diệu làm sao, bạch đức Thế Tôn! Đệ tử sẽ hoan hỉ phát tâm thiết lễ đặt bát vật thực, cúng dường vải vóc, nhiều loại lễ phẩm phụ tùy khác đến đức Tôn Sư cùng Tăng chúng Thánh Hạnh suốt một tuần lễ tại hoàng cung. Ngoài ra, đệ tử cũng xin phát nguyện kiến thiết xây dựng toàn bộ khu Trúc Lâm này. Đệ tử sẽ cho làm ngay vài ngàn cốc liêu, đại giảng đường, thiền đường, nhà khách, nhà ăn, các công trình phụ về vệ sinh, nhà tắm, sân bãi, vườn cảnh, lối đi kinh hành, nhà kho, trạm xá… đâu đấy đều chu đáo và hoàn chỉnh để dâng cúng đến đức Tôn Sư và giáo đoàn, hy vọng sẽ phát triển lớn mạnh trong nay mai nữa! Hạnh phúc thay khi được làm người hộ pháp cho giáo pháp bất tử!

Đức Phật mở lời tán thán công đức vĩ đại của nhà vua, đồng thời ngợi khen mô hình phác thảo tịnh xá Trúc Lâm như là công trình tôn giáo có giá trị thế kỷ tại đất nước này vậy.

Sau chỉ một ngày làm phước, cúng dường Đức Phật và Thánh chúng như ý muốn, đêm ấy nhà vua nằm mộng thấy các vị trời rất cao sang và xinh đẹp, đồng hiện đến để tri ân và báo tin cho ông hay là họ đã no đủ, đã sung sướng, đã thoát kiếp ngạ quỷ, sinh làm chư Thiên ở trong sự cai quản của Tứ Đại Thiên Vương. Ngày hôm sau, với tâm trạng lâng lâng, nhà vua đến bạch Phật kể lại câu chuyện; Nhân tiện, suốt cả sáu ngày liên tiếp, Đức Phật thuyết về các cảnh giới, lần lượt trình bày về nhân về quả từ Địa ngục cho đến cõi trời Phi phi tưởng. Sau thời pháp, lệnh bà Vi-đề-hy (Videhi) và hằng trăm người khác đắc quả Tu-đà-hoàn.”

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện – Phẩm 7: Lợi Ích Của Kẻ Còn Người Mất

Khi bấy giờ, Đại Bồ Tát Địa Tạng bạch Phật rằng: “Lạy Đức Thế Tôn, con xem chúng sinh trong cõi Nam Diêm Phù Đề này, cất chân nhắc tay, nảy lòng mống nghĩ, đều gây tội cả, nếu gặp thiện lợi, phần nhiều là thoái tấm lòng tu trước, mà gặp ác duyên thì càng thêm ác, những người ấy ví như đi vào bùn lầy, lại đội đá nặng, càng thêm nặng thêm khốn, mà chân càng ngập xuống tận đất đen. Ví bằng gặp bậc thiện tri thức đội bớt cho, hoặc đội đỡ cả cho, mà người thiện tri thức ấy vì có sức rất khỏe, lại giúp đỡ cho bước được vững vàng, tới chỗ bằng phẳng nên nghĩ đến đường xấu, chẳng còn trở lại đường ấy nữa. Lạy Đức Thế Tôn, chúng sinh huân tập tính ác, từ một mảy may, cho đến không biết thế nào mà lường được. Các chúng sinh ấy đã nhiễm thói như thế, thì khi lâm chung, họ hàng trai gái nên vì người ấy làm phúc làm duyên để giúp thêm tiền đồ cho họ, như treo tràng phan, bảo cái và đốt đèn hoặc chuyển đọc kinh này, hoặc cúng dường tượng Phật cho chí niệm danh hiệu Phật, danh hiệu Bồ Tát, danh hiệu Bích Chi Phật; mỗi một danh mỗi một hiệu lọt vào tai người lâm chung còn thần thức nghe được. Cứ các nghiệp ác của các chúng sinh ấy đã làm ra, tính phần cảm quả tất đọa đường ác, nhưng nhờ có họ hàng thân thích vì người lâm chung ấy, làm những nhân thánh, thì những tội báo kia đều được tiêu diệt hết. Nếu vì kẻ đã chết kia, trong bốn mươi chín (49) ngày làm nhiều việc thiện, thì có thể khiến cho các chúng sinh ấy thoát hẳn đường ác, được sinh vào cõi Thiên, cõi Nhân hưởng thụ những sự cực kỳ vui thú, mà cả đến họ hàng hiện tại cũng được lợi ích vô cùng. Vì vậy con nay đứng trước Đức Thế Tôn cùng Thiên, Long tám bộ, Nhân và Phi Nhân khuyên các chúng sinh trong cõi Nam Diêm Phù Đề, hễ khi có người lâm chung phải cẩn thận chớ có sát hại sinh linh cùng tạo ác duyên: bái tế quỷ thần, kêu cầu ma quái. Tại sao vậy? Bởi vì sự sát hại, cho chí cúng tế như thế chẳng được tí phúc nào để lợi ích cho người chết cả, mà lại buộc thêm tội duyên cho người chết thêm sâu nặng. Giả như đời này hoặc đời sau, người ấy được dự phẩm quả Thánh, đáng sinh vào cõi Nhân, cõi Thiên, mà chỉ vì trong lúc lâm chung, bị họ hàng gây những nhân ác ấy, cũng có thể làm cho người ấy phải vạ lây, đi đối chứng mãi, bị chậm sinh trong chốn thiện. Huống chi người mạng chung kia, khi còn sống ở đời, chưa từng có chút thiện căn gì, đều cứ theo bản nghiệp, tự đày vào ác thú, họ hàng nỡ nào lại làm tăng tội nghiệp cho họ nữa ư? Thí như có người từ nơi xa lại, cạn lương đã ba ngày mà đồ vật phải gánh đội nặng hơn trăm cân, chợt gặp người quen, còn chờ đèo hộ ít đồ vật nữa, vì thế lại nặng nề khốn khổ hơn nữa.

Lạy Đức Thế Tôn, con xem chúng sinh trong cõi Nam Diêm Phù Đề hễ hay làm được những điều Chư Phật dạy, cho chí một việc thiện nhỏ như sợi lông, giọt nước, hạt cát hay mảy bụi, hết thảy đều được lợi ích cả”.

Khi thuyết xong lời ấy, thời trong hội có một ông trưởng giả tên là Đại Biện tu chứng được phép vô sinh đã lâu đời, vì chưng muốn hóa độ thập phương, nên ông mới hiện ra thân Trưởng giả, chắp tay cung kính hỏi Bồ Tát Địa Tạng rằng: “Thưa Đại sĩ, chúng sinh trong cõi Nam Diêm Phù Đề này, sau khi chết rồi, có họ hàng lớn bé, vì người ấy mà tu làm công đức, cho chí làm chay, làm các nhân lành thì người chết đó có được lợi ích lớn và được giải thoát không?” Bồ Tát Địa Tạng trả lời rằng: “Nay tôi nhờ uy thần của Phật xin vì các chúng sinh đời này và đời sau mà nói qua sự ấy. Này ông Trưởng giả! Những chúng sinh đời này và đời sau, đến ngày mệnh chung mà được nghe một danh hiệu Phật, một danh hiệu Bồ Tát hay một danh hiệu Bích Chi Phật, không kể gì có tội hay không có tội, đều được giải thoát cả. Nếu có người đàn ông hay người đàn bà nào, khi còn sống, không làm được chút nhân lành, lại gây nên nhiều tội, sau khi chết đi mà có họ hàng lớn bé vì người ấy làm việc phúc lợi và các việc Phật, thì trong bảy phần công đức ấy, người chết chỉ được hưởng có một, còn sáu phần thì người sống được hưởng. Vì thế cho nên các thiện nam, thiện nữ, trong đời này và đời sau nghe thấy nên cố gắng công tu, thời được đủ mọi phần phúc lợi. Con quỷ vô thường lớn kia, bất kì nó đến, thần hồn mờ mịt, vẩn vơ chưa biết tội hay phúc, trong bốn mươi chín ngày, như ngây như điếc, hoặc ở các tòa biện luận nghiệp quả, sau khi thẩm định, thời phải tùy nghiệp thụ sinh. Trong khi chưa biết thế nào ấy, cũng đã chịu muôn nghìn sầu khổ rồi, huống chi là bị đọa vào các ngả ác nữa. Còn người chết kia, chưa được thụ sinh, trong vòng bốn mươi chín ngày, tâm tâm niệm niệm, lòng hằng mong mỏi, cậy họ hàng cốt nhục, làm các việc phúc để cứu giúp họ. Qua ngày ấy thời phải tùy nghiệp mà chịu báo. Nếu là người bị tội thường, cũng còn bị hàng trăm nghìn năm, không hòng có ngày được giải thoát; mà là kẻ phải tội đày vào năm địa ngục vô gián, thì muôn kiếp nghìn đời chịu khổ mãi mãi.

Lại nữa, này ông Trưởng giả! Chúng sinh tội nghiệp như thế, sau khi chết rồi, họ hàng cốt nhục có làm chay, cầu phúc giúp thêm nghiệp lành cho người chết ấy, thì lúc chưa làm xong; trong lúc đang làm nước, gạo và rau không được đổ vãi xuống đất, cho chí các thực phẩm chưa hiến cúng Phật và chư Tăng, không được ăn trước. Nếu ăn sai phép và làm không được tinh sạch thì người chết ấy, chẳng được một tí phúc nào cả. Nếu những món cúng hiến Phật và chư Tăng mà làm được tinh sạch thì trong bảy phần công đức người chết được một. Vì thế cho nên, này ông Trưởng giả chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề, nếu vì cha mẹ hay họ hàng, sau khi chết rồi mà làm chay cúng dàng, dốc lòng kính cẩn làm được như vậy thì kẻ còn, người chết đều được lợi ích cả”.

Khi thuyết xong lời ấy, ở cung Trời Đao Lợi, có hàng trăm nghìn vạn ức na do tha Quỷ Thần trong cõi Nam Diêm Phù Đề, hết thảy đều phát tâm Bồ Đề vô lượng. Ông Đại Biện Trưởng giả hoan hỷ vâng lời dạy bảo, làm lễ rồi lui.

C. Các Bước Của Ngày Sang Cát

Bước 4: Làm Lễ Trước Khi Đào Mộ

1. Sắm Lễ

Hương, hoa quả (loại quả thì tuỳ ý và không quy định số lượng là bao nhiêu), nước trắng, xôi hoặc bát cơm trắng, bánh kẹo tuỳ ý. Đặt tiền trên mộ (tuỳ ý).

2. Bài Khấn

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Nam Mô A Di Đà Phật! Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con. Con xin thỉnh mời chư Thiên, chư Thần Linh, thổ địa, đẳng đẳng chư Thần quang giáng về nơi đây ủng hộ cho chúng con.

Hôm nay là ngày… tháng… năm… Đệ tử con là……………. ở tại……………. Con có người thân: (bố, mẹ,…)…… mất ngày… tháng… năm…. an táng tại nơi đây………… Theo lời thỉnh cầu từ trước, hôm nay giờ này, con xin sang cát cho: (bố, mẹ,…)…… con xin chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con, chư Thiên, chư Thần Linh, thổ địa, đẳng đẳng chư Thần ủng hộ cho gia đình chúng con tất cả các công việc được hanh thông, viên mãn.

Con xin nương oai lực Tam Bảo, hạnh nguyện độ sinh và độ cho vong linh của chư Tăng chùa:…. (Ba Vàng….) con xin thỉnh mời vong linh: (bố, mẹ,…)…… chứng giám cho tâm thành của con mà hoan hỷ cho chúng con.

Hôm nay chúng con sắm sửa hương hoa vật thực thành tâm dâng cúng. Chúng con biết chư Phật không thọ thực, nhưng chúng con cũng xin thỉnh Chư Phật chứng minh cho lòng thành kính của chúng con, sau chúng con xin dâng cúng vật thực này tới cho chư Thiên, chư Thần, thừa oai lực Phật xin phổ tế tới cho vong linh:…………….. được về đây thọ thực. chúng con cũng xin được mời tất cả các vong linh ở tại nơi địa cuộc nghĩa trang này, được nương oai lực Tam Bảo thọ phần dâng cúng của con. Nguyện cho các hương linh được nương sự bố thí trong lễ cúng này của con mà được thọ thực no đủ.

Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha nga đá phả rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng (7 lần).
Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha (7 lần).
Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng (7 lần).

(Nếu Phát tâm cúng dường Tam Bảo về chùa thì đọc tiếp, nếu không cúng dường thì không đọc và tiếp tục Phần LỄ)

Nhân duyên hôm nay là ngày… tháng… năm…, chúng con muốn tạ ân đến chư Thiên, chư Thần, nên xin cúng dường Tam Bảo để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần tăng phúc phẩm, hộ trì cho con cùng các vong linh và con muốn cho các vong linh bớt khổ, nên chúng con thành tâm cúng dường tịnh tài (tiền) để hộ độ cho Tăng chúng tu hành tại chùa:… (nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, TP Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh) với tâm nguyện cho chư Tăng được tứ sự như ý phù hợp với việc tu tập để hồi hướng công đức cúng dường của chúng con đến chư Thiên, chư Thần Linh, cùng các vong linh.

Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần Linh tại nơi nghĩa trang…
Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư hương linh: (bố, mẹ,…)……
Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư hương linh tại nơi địa cuộc nghĩa trang có duyên trong buổi lễ hôm nay.

Con xin lễ Phật tụng bài kinh VÔ THƯỜNG, con xin chư Phật gia hộ, chư Thiên thiện thần ủng hộ cho con cùng các vong linh được hiểu nghĩa lý để tu tâm chuyển hoá nghiệp lực sớm được siêu thoát

3. Lễ

Chí tâm đảnh lễ tất cả chư Phật ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).
Chí tâm đảnh lễ tất cả Chính Pháp ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).
Chí tâm đảnh lễ tất cả Tăng bậc hiền Thánh ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).

4. Tụng Kinh

(Ngồi tụng kinh)

Kinh Vô Thường

Cúi đầu quy y Vô Thượng Sĩ
Thường khởi hoằng thệ đại bi tâm
Cứu các hữu tình qua sanh tử
Tới được tịch diệt chốn bình an

Đại thí trì giới, nhẫn, tinh tấn
Nhất tâm phương tiện chánh tuệ lực
Tự lợi lợi tha thảy viên mãn
Nên gọi Điều Ngự Thiên Nhân Sư

Cúi đầu quy y diệu Pháp tạng
Ba Bốn, hai Năm, lý viên minh
Bảy, Tám, khéo mở cửa Bốn Đế
Hành giả thảy đến bờ vô vi

Mây Pháp mưa Pháp thấm chúng sanh
Khéo trừ nhiệt não sạch chúng bệnh
Ai khó giáo hóa khiến điều phục
Tùy cơ dẫn đạo không cưỡng ép

Cúi đầu quy y chân Thánh chúng
Tám bậc thượng nhân khéo ly nhiễm
Chày trí kim cang phá tà sơn
Vĩnh đoạn vô thỉ siết trói buộc

Xưa từ Lộc Uyển đến Song Lâm
Theo Phật trọn đời hoằng chân giáo
Mỗi tùy bổn duyên hành hóa xong
Tro thân diệt trí tịch vô sanh

Cúi đầu cung kính Tam Bảo tôn
Đây là chánh nhân khéo phổ độ
Mê ngu chìm đắm nơi sanh tử
Thảy khiến ra khỏi đến tịch diệt

Mọi người sanh ra đều phải chết
Dung nhan tươi đẹp sẽ tàn phai
Mạnh khỏe rồi thì cũng mắc bệnh
Chẳng một ai nào thoát miễn đâu

Thậm chí cho dù núi Diệu Cao
Đến khi kiếp tận đều hoại diệt
Biển lớn sâu thẳm không bờ đáy
Nhưng rồi cũng phải khô cạn thôi

Đại địa mặt trời với mặt trăng
Tới lúc nào đó cũng tận diệt
Xưa nay chưa từng có việc gì
Không bị vô thường nuốt chửng đâu

Trên lên tận cõi Phi Phi Tưởng
Dưới đến thế gian vua Chuyển Luân
Bảy báu uy trấn theo bên mình
Hàng ngàn con trai luôn vây quanh

Nhưng khi thọ mạng đã chấm dứt
Vụt thoáng hốt nhiên chẳng tạm đình
Trở lại phiêu dạt trong biển tử
Chịu nỗi thống khổ tùy nghiệp duyên

Tuần hoàn xoay vần trong ba cõi
Ví như trục quay múc nước giếng
Cũng như con tằm làm tổ kén
Nhả tơ vây bọc nhốt chính mình

Dù đến vô thượng chư Thế Tôn
Và hàng Thanh Văn bậc Độc Giác
Còn phải xả bỏ thân vô thường
Hà huống phàm phu có thá chi

Song thân cha mẹ với vợ con
Tỷ muội huynh đệ cùng quyến thuộc
Mắt thấy chia lìa cảnh sống chết
Sao lại không sầu khóc thở than?

Cho nên khuyên bảo với mọi người
Hãy lắng nghe kỹ Pháp chân thật
Rồi cùng xả bỏ chốn vô thường
Và hãy thực hành Bất Tử Môn

Phật Pháp ví như nước cam lộ
Diệt trừ nhiệt não được mát mẻ
Vì vậy nhất tâm hãy lắng nghe
Có thể tiêu trừ mọi não phiền

Tôi Nghe Như Vầy:
Một thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, trong rừng cây Chiến Thắng gần thành Phong Đức.
Khi ấy Phật bảo các vị Bhikṣu [đọc là Bíc su] rằng:
“Ở thế gian có ba thứ mà không thể yêu mến, không thể xán lạn, không thể nhớ mong, và không thể vừa ý. Những gì là ba?
Đó là Già, Bệnh, Chết.
Này các vị Bhikṣu! Già, Bệnh, Chết ở thế gian, thật không thể yêu mến, thật không thể xán lạn, thật không thể nhớ mong, và thật không thể vừa ý.
Nếu không có Già, Bệnh, Chết ở thế gian, thì Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác, sẽ không xuất hiện ở thế gian để thuyết Pháp mà Ngài đã chứng đắc và phương pháp điều phục.
Cho nên phải biết rằng, Già, Bệnh, Chết ở thế gian, thật không thể yêu mến, thật không thể xán lạn, thật không thể nhớ mong, và thật không thể vừa ý. Do bởi ba việc này nên Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác, mới xuất hiện ở thế gian để thuyết Pháp mà Ngài đã chứng đắc và phương pháp điều phục.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn dùng kệ tuyên lại rằng:
“Ngoại sự huy hoàng rồi sẽ hoại
Nội thân suy biến cũng thế thôi
Duy có thắng Pháp chẳng diệt vong
Cho nên người trí hãy ngẫm suy

Già, Bệnh, Chết này đều cùng gớm
Hình dáng xấu xí thật đáng ghét
Dung mạo thanh xuân chỉ tạm thời
Không lâu tất sẽ khô héo phai

Cho dù sống đến trọn trăm năm
Kết cục chẳng thể thoát vô thường
Già, Bệnh, Chết khổ mãi đuổi theo
Luôn cho chúng sanh vô ích lợi”

Khi Thế Tôn thuyết Kinh này xong, các vị Bhikṣu, trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên cùng hết thảy đại chúng, họ đều sanh tâm đại hoan hỷ và tín thọ phụng hành.

Ai luôn cầu cảnh dục
Chẳng chịu làm việc lành
Không thấy chết cận kề
Làm sao hộ tánh mạng?

Khi mạng căn sắp đứt
Đốt xương thảy phân ly
Khổ ách cùng chết đến
Lúc ấy hận ngậm ngùi

Hai mắt trợn trắng lên
Tử đao nghiệp lực giáng
Ý tưởng đầy kinh hoàng
Chẳng ai tương cứu giúp

Hổn hển ngực đập nhanh
Cổ khô thở đứt quãng
Tử thần đòi lấy mạng
Thân thuộc đành đứng trông

Các thức đều mờ mịt
Đi vào trong thành hiểm
Thân quyến thảy rời bỏ
Dây siết lôi kéo đi

Dẫn đến chỗ Diêm Vương
Tùy nghiệp mà thọ báo
Nhân thiện sanh chốn lành
Nghiệp ác đọa địa ngục

Mắt sáng nào bằng tuệ
Tối tăm nào bằng si
Có bệnh nào hơn oán
Có sợ nào hơn chết

Có sanh ắt phải chết
Tạo tội thân chịu khổ
Hãy nên giữ ba nghiệp
Luôn mãi tu phước trí

Quyến thuộc đều rời xa
Tài vật người chiếm đoạt
Chỉ căn lành của mình
Tư lương nơi hiểm đạo

Như cây bên ven đường
Tạm nghỉ chẳng ở lâu
Ngựa xe cùng vợ con
Không lâu cũng như vậy

Như chim đậu qua đêm
Sáng sớm bay mỗi hướng
Chết đến lìa thân quyến
Biệt ly cũng như vậy

Duy Phật có đại giác
Là nơi chân quy y
Y Kinh ta lược giảng
Người trí hãy tư duy

Trời người phi thiên quỷ tiệp tật
Người đến nghe Pháp nên chí tâm
Hộ trì Phật Pháp khiến trường tồn
Mỗi người cần hành lời Phật dạy

Chúng sanh đến đây lắng nghe Pháp
Hoặc ở trên đất hay không trung
Thường vì nhân thế khởi từ tâm
Ngày đêm tự mình trụ nơi Pháp

Nguyện các thế giới luôn bình an
Vô biên phước trí lợi chúng sanh
Bao nhiêu nghiệp tội thảy tiêu trừ
Rời xa khổ ách về tịch diệt

Luôn dùng giới hương thoa tịnh thể
Thường mang thiền định khoác vào thân
Tuệ giác diệu hoa biến trang nghiêm
Tùy nơi trú xứ thường an lạc.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni (3 lần).

5. Mười Hạnh Phổ Hiền

Đệ tử chúng con tùy thuận tu tập theo mười nguyện lớn của đức Phổ Hiền Bồ Tát:
Một là kính lễ chư Phật
Hai là xưng tán Như Lai
Ba là rộng tu cúng dường
Bốn là sám hối nghiệp chướng
Năm là tùy hỷ công đức
Sáu là thỉnh Phật chuyển Pháp
Bảy là thỉnh Phật trụ thế
Tám là thường theo học Phật
Chín là hằng thuận chúng sinh
Mười là hồi hướng khắp tất cả.

6. Phục Nguyện

(Quỳ đọc cho đến hết)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni phục nguyện! Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con; chư vị Hộ Pháp, Thiện Thần, Thần Linh ủng hộ cho chúng con. Con xin hồi hướng công đức tu tập và phúc báo cúng dường hôm nay đến cho gia đình chúng con được tiêu trừ ác nghiệp, được:… (nói tâm mong cầu của mình…), được thuận duyên trong các công việc để an ổn tu tập theo Pháp của người Phật tử tại gia. Con cũng xin hồi hướng công đức tu hành cùng phúc báo phát nguyện cúng dường hôm nay cho các vong linh, để các vong linh sẽ cùng với con từ nay cho tới vô lượng kiếp về sau được tu tập theo giáo Pháp của Phật, cho tới ngày được thành Phật. Nguyện cho công việc sang cát phần mộ của (bố, mẹ,…)…… con được hanh thông kết quả được tốt đẹp.
Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

7. Tam Tự Quy

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng (1 lễ).
Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lễ).
Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại (1 lễ).

Xong chắp tay khấn:

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Nam Mô A Di Đà Phật! Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con. Con xin thỉnh mời chư Thiên, chư Thần Linh, thổ địa, đẳng đẳng chư Thần quang giáng về nơi đây ủng hộ cho chúng con. Con xin nương oai lực Tam Bảo thỉnh vong linh: (bố, mẹ,…)…… chứng giám cho chúng con đã tắm rửa xong phần xương cốt của (bố, mẹ,…)…… , xin thỉnh (bố, mẹ,…)…… cùng với chúng con, sang phần đất mới để chúng con hạ huyệt phần xương cốt này, xin (bố, mẹ,…)…… không chấp vào phần xương cốt này mà sẽ bị đọa làm quỷ lâu dài, phần xương cốt này chôn xuống thành mồ mả, chỉ là chỗ để cho con cháu tu hành hiếu hạnh, nghĩa tình mà thôi. Con xin chư Phật chư Bồ tát, chư Thánh Hiền tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con; chư Thiên,Thiện Thần, Hộ Pháp ủng hộ cho chúng con.
Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Nam Mô A Di Đà Phật!

(Khấn xong di chuyển phần tiểu sang chỗ mới để hạ huyệt)

Bước 5: Làm Lễ Hạ Huyệt

1. Sắm Lễ

Hương, hoa quả (loại quả thì tuỳ ý và không quy định số lượng là bao nhiêu), nước trắng, xôi hoặc bát cơm trắng, bánh kẹo tuỳ ý. Đặt tiền trên mộ (tuỳ ý).

2. Bài Khấn

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Nam Mô A Di Đà Phật! Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con. Con xin thỉnh mời chư Thiên, chư Thần Linh, thổ địa, đẳng đẳng chư Thần quang giáng về nơi đây ủng hộ cho chúng con.

Hôm nay là ngày… tháng… năm… Đệ tử con là……………. ở tại……………. Con có người thân: (bố, mẹ,…)…… mất ngày… tháng… năm…., như lời con đã khấn bạch từ trước, hôm nay con xin được hạ huyệt an táng cho: (bố, mẹ,…)…… tại nơi đây, con xin chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con, chư Thiên, chư Thần Linh, thổ địa, đẳng đẳng chư Thần ủng hộ cho gia đình chúng con tất cả các công việc được hanh thông, viên mãn.

Con xin nương oai lực Tam Bảo, hạnh nguyện độ sinh và độ cho vong linh của chư Tăng chùa:… (Ba Vàng….) con xin thỉnh mời vong linh: (bố, mẹ,…)…… chứng giám cho tâm thành của con mà hoan hỷ cho con.

Hôm nay chúng con sắm sửa hương hoa vật thực thành tâm dâng cúng, chúng con biết chư Phật không thọ thực, nhưng chúng con cũng xin thỉnh Chư Phật chứng minh cho lòng thành kính của chúng con, sau chúng con xin dâng cúng vật thực này tới cho chư Thiên, chư Thần, thừa oai lực Phật xin phổ tế tới cho vong linh:…………….. được về đây thọ thực. Chúng con cũng xin được mời tất cả các vong linh ở tại nơi địa cuộc nghĩa trang này, được nương oai lực Tam Bảo thọ phần dâng cúng của con. Nguyện cho các hương linh được nương sự bố thí trong lễ cúng này của con mà được thọ thực no đủ.

– Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha nga đá phả rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng (7 lần).
Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha (7 lần).
Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng (7 lần).

(Nếu phát tâm cúng dường Tam Bảo về chùa thì đọc tiếp, nếu không cúng dường thì không đọc và tiếp tục Phần LỄ)

Nhân duyên ngày này, chúng con muốn tạ ân chư Thiên, chư Thần và mong các vong linh bớt khổ, nên chúng con thành tâm cúng dường tịnh tài (tiền) để hộ độ cho Tăng chúng tu hành tại chùa:… (nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, TP Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh) với tâm nguyện cho chư Tăng được tứ sự như ý phù hợp với việc tu tập để hồi hướng công đức cúng dường của chúng con đến chư Thiên, chư Thần Linh, cùng các vong linh.

Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần Linh tại nơi nghĩa trang…
Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư hương linh: (bố, mẹ,…)……
Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư hương linh tại nơi địa cuộc nghĩa trang có duyên trong buổi lễ hôm nay.

Con xin lễ Phật tụng bài kinh Bát Đại Nhân Giác, con xin chư Phật gia hộ, chư Thiên, Thiện Thần ủng hộ cho con cùng các vong linh được hiểu nghĩa lý để tu tâm chuyển hoá nghiệp lực sớm được siêu thoát.

3. Lễ

Chí tâm đảnh lễ tất cả chư Phật ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).
Chí tâm đảnh lễ tất cả chính Pháp ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).
Chí tâm đảnh lễ tất cả Tăng bậc hiền Thánh ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).

4. Tụng Kinh

Kinh Bát Đại Nhân Giác

Là người đệ tử Phật, ngày đêm nên chí tâm, nhớ nghĩ và tư duy, về tám điều giác ngộ, của các bậc Đại nhân.

Điều Giác Ngộ Thứ Nhất:
Thế gian vốn vô thường, cõi nước rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã, luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là nguồn việc ác, thân là rừng nghiệp tội, nếu quán sát như thế, dần dần lìa sinh tử.

Điều Giác Ngộ Thứ Hai:
Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục khởi, nếu ít muốn biết đủ, thân tâm được tự tại.

Điều Giác Ngộ Thứ Ba:
Tâm nếu không biết đủ, chỉ lo việc tham cầu, sẽ tăng thêm tội ác, Bồ Tát không như vậy, thường nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy tuệ làm sự nghiệp.

Điều Giác Ngộ Thứ Tư:
Lười biếng phải sa đọa, nên thường hành tinh tấn, để phá phiền não ác, chiết phục cả bốn ma, ra khỏi ngục ấm giới.

Điều Giác Ngộ Thứ Năm:
Ngu si phải sinh tử, nên Bồ Tát thường nhớ, luôn học rộng nghe nhiều, để tăng trưởng trí tuệ, và thành tựu biện tài, rồi đem niềm vui lớn, giáo hóa cho tất cả.

Điều Giác Ngộ Thứ Sáu:
Nghèo khổ hay oán hờn, thường kết nhiều duyên ác, Bồ Tát hành bố thí, bình đẳng với oán thân, không nhớ đến lỗi cũ, không ghét bỏ người ác.

Điều Giác Ngộ Thứ Bảy:
Năm dục là tai họa, thân dẫu ở cõi tục, nhưng không nhiễm dục lạc, thường nhớ nghĩ ba y, bình bát và pháp khí, chí nguyện người xuất gia, luôn giữ đạo trong sạch, thực hành hạnh thanh tịnh, từ bi với tất cả.

Điều Giác Ngộ Thứ Tám:
Sinh tử luôn thiêu đốt, khổ não thật vô biên, nên phát tâm Bồ đề, tu hành cầu Thánh đạo, cứu độ khắp tất cả, nguyện thay thế chúng sinh, gánh chịu vô lượng khổ, khiến cho tất cả loài, đều được đại an lạc.

Tám điều nói trên đây, chư Phật và Bồ Tát, đã tự từng giác ngộ, và tinh tấn hành đạo, tu từ bi trí tuệ, nương theo thuyền Pháp thân, đến nơi bờ Niết bàn, rồi trở lại sinh tử, độ thoát các chúng sinh, cũng đem tám điều này, chỉ dạy cho tất cả, khiến mọi loài chúng sinh, biết được sinh tử khổ, xa lìa năm món dục, tu tâm theo Thánh đạo. Nếu người đệ tử Phật, tư duy tám điều này, sẽ ở trong mỗi niệm, diệt được vô lượng tội, thẳng tiến đến Bồ đề, mau thành tựu Chính giác, dứt hẳn đường sinh tử, thường an trú tịnh lạc.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

5. Mười Hạnh Phổ Hiền

Đệ tử chúng con tùy thuận tu tập theo mười nguyện lớn của đức Phổ Hiền Bồ Tát:
Một là kính lễ chư Phật
Hai là xưng tán Như Lai
Ba là rộng tu cúng dường
Bốn là sám hối nghiệp chướng
Năm là tùy hỷ công đức
Sáu là thỉnh Phật chuyển Pháp
Bảy là thỉnh Phật trụ thế
Tám là thường theo học Phật
Chín là hằng thuận chúng sinh
Mười là hồi hướng khắp tất cả.

6. Phục Nguyện

(Quỳ đọc cho đến hết)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni phục nguyện!
Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh và gia hộ; chư vị Hộ Pháp, Thiện Thần, Thần Linh ủng hộ cho chúng con. Con xin hồi hướng công đức tu tập và phúc báo cúng dường hôm nay đến cho gia đình chúng con được tiêu trừ ác nghiệp, được:… (nói tâm mong cầu của mình…), được thuận duyên trong các công việc để an ổn tu tập theo Pháp của người Phật tử tại gia. Con cũng xin hồi hướng công đức tu hành cùng phúc báo phát nguyện cúng dường hôm nay cho các vong linh, để các vong linh sẽ cùng với con từ nay cho tới vô lượng kiếp về sau được tu tập theo giáo Pháp của Phật, cho tới ngày được thành Phật. Con xin thỉnh mời vong linh: (bố, mẹ,…)…… về gia đình ở tại…. để cho chúng con cúng lễ và cùng với chúng con tu tập.
Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

7. Tam Tự Quy

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng (1 lễ).
Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lễ).
Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại (1 lễ).

HẾT BƯỚC 5

Bước 6: Làm Lễ Tại Nhà

1. Sắm Lễ

Hương, hoa quả, mâm cơm chay, sữa tươi. Đặt tiền trên bàn thờ gia tiên. Nếu nhà ai có bàn thờ Phật, thì sắm lễ trên bàn thờ Phật riêng.

2. Bài Khấn

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Nam Mô A Di Đà Phật! Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con. Con xin thỉnh mời chư Thiên, chư Thần Linh, thổ địa, đẳng đẳng chư Thần quang giáng về nơi đây ủng hộ cho chúng con.

Hôm nay là ngày… tháng… năm… Đệ tử con là……………. ở tại……………. Hôm nay con đã sang cát xong cho (bố, mẹ,…)…… tất cả các công việc được hanh thông, viên mãn. Con sắm sửa hương hoa vật thực thành tâm dâng cúng, chúng con biết chư Phật không thọ thực, nhưng chúng con cũng xin thỉnh Chư Phật chứng minh cho lòng thành kính của chúng con, sau chúng con xin dâng cúng vật thực này tới cho chư Thiên, chư Thần, thừa oai lực Phật xin phổ tế tới cho vong linh gia tiên tiền tổ, cùng vong linh (bố, mẹ,…)…… và các vong linh trên đất ở của chúng con, được về đây thọ thực cùng nghe kinh thính Pháp. Nguyện cho các hương linh được nương sự bố thí trong lễ cúng này của con mà được thọ thực no đủ.

Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha nga đá phả rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng (7 lần).
Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha (7 lần).
Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng (7 lần).

(Nếu Phát tâm cúng dường Tam Bảo về chùa thì đọc tiếp, nếu không cúng dường thì không đọc và tiếp tục Phần LỄ)

Nhân duyên hôm nay là ngày… tháng… năm…, chúng con muốn tạ ân đến chư Thiên, chư Thần, nên xin cúng dường Tam Bảo để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần tăng phúc phẩm, để hộ trì cho con cùng các vong vinh và con muốn cho các vong linh bớt khổ, nên chúng con thành tâm cúng dường tịnh tài (tiền) để hộ độ cho Tăng chúng tu hành tại chùa:… (nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, TP Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh) với tâm nguyện cho chư Tăng được tứ sự như ý phù hợp với việc tu tập để hồi hướng công đức cúng dường của chúng con đến chư Thiên, chư Thần Linh, cùng các vong linh.

Chúng con xin cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần, chư Thần Linh tại nơi nghĩa trang…
Chúng con xin cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư vong linh gia tiên tiền tổ và vong linh (bố, mẹ,…)…… cùng các vong linh trong nơi đất ở của gia đình con.

Con xin lễ Phật tụng kinh Bát Đại Nhân Giác, con xin chư Phật gia hộ, chư Thiên, Thiện Thần ủng hộ cho con cùng các vong linh hoan hỷ nhận phúc và được hiểu nghĩa lý để tu tâm chuyển hoá nghiệp lực.

3. Lễ

Chí tâm đảnh lễ tất cả chư Phật ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).
Chí tâm đảnh lễ tất cả chính Pháp ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).
Chí tâm đảnh lễ tất cả Tăng bậc hiền Thánh ba đời tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).

4. Tụng Kinh

(Ngồi tụng kinh)

Kinh Bát Đại Nhân Giác

Là người đệ tử Phật, ngày đêm nên chí tâm, nhớ nghĩ và tư duy, về tám điều giác ngộ, của các bậc Đại nhân.

Điều Giác Ngộ Thứ Nhất:
Thế gian vốn vô thường, cõi nước rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã, luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là nguồn việc ác, thân là rừng nghiệp tội, nếu quán sát như thế, dần dần lìa sinh tử.

Điều Giác Ngộ Thứ Hai:
Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục khởi, nếu ít muốn biết đủ, thân tâm được tự tại.

Điều Giác Ngộ Thứ Ba:
Tâm nếu không biết đủ, chỉ lo việc tham cầu, sẽ tăng thêm tội ác, Bồ Tát không như vậy, thường nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy tuệ làm sự nghiệp.

Điều Giác Ngộ Thứ Tư:
Lười biếng phải sa đọa, nên thường hành tinh tấn, để phá phiền não ác, chiết phục cả bốn ma, ra khỏi ngục ấm giới.

Điều Giác Ngộ Thứ Năm:
Ngu si phải sinh tử, nên Bồ Tát thường nhớ, luôn học rộng nghe nhiều, để tăng trưởng trí tuệ, và thành tựu biện tài, rồi đem niềm vui lớn, giáo hóa cho tất cả.

Điều Giác Ngộ Thứ Sáu:
Nghèo khổ hay oán hờn, thường kết nhiều duyên ác, Bồ Tát hành bố thí, bình đẳng với oán thân, không nhớ đến lỗi cũ, không ghét bỏ người ác.

Điều Giác Ngộ Thứ Bảy:
Năm dục là tai họa, thân dẫu ở cõi tục, nhưng không nhiễm dục lạc, thường nhớ nghĩ ba y, bình bát và pháp khí, chí nguyện người xuất gia, luôn giữ đạo trong sạch, thực hành hạnh thanh tịnh, từ bi với tất cả.

Điều Giác Ngộ Thứ Tám:
Sinh tử luôn thiêu đốt, khổ não thật vô biên, nên phát tâm Bồ đề, tu hành cầu Thánh đạo, cứu độ khắp tất cả, nguyện thay thế chúng sinh, gánh chịu vô lượng khổ, khiến cho tất cả loài, đều được đại an lạc.

Tám điều nói trên đây, chư Phật và Bồ Tát, đã tự từng giác ngộ, và tinh tấn hành đạo, tu từ bi trí tuệ, nương theo thuyền Pháp thân, đến nơi bờ Niết bàn, rồi trở lại sinh tử, độ thoát các chúng sinh, cũng đem tám điều này, chỉ dạy cho tất cả, khiến mọi loài chúng sinh, biết được sinh tử khổ, xa lìa năm món dục, tu tâm theo Thánh đạo. Nếu người đệ tử Phật, tư duy tám điều này, sẽ ở trong mỗi niệm, diệt được vô lượng tội, thẳng tiến đến Bồ đề, mau thành tựu Chính giác, dứt hẳn đường sinh tử, thường an trú tịnh lạc.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

5. Mười Hạnh Phổ Hiền

Đệ tử chúng con tùy thuận tu tập theo mười nguyện lớn của đức Phổ Hiền Bồ Tát:
Một là kính lễ chư Phật
Hai là xưng tán Như Lai
Ba là rộng tu cúng dường
Bốn là sám hối nghiệp chướng
Năm là tùy hỷ công đức
Sáu là thỉnh Phật chuyển Pháp
Bảy là thỉnh Phật trụ thế
Tám là thường theo học Phật
Chín là hằng thuận chúng sinh
Mười là hồi hướng khắp tất cả.

6. Phục Nguyện

(Quỳ đọc cho đến hết)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni phục nguyện!
Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con; chư vị Hộ Pháp, Thiện Thần, Thần Linh ủng hộ: hôm nay công việc sang cát cho (bố, mẹ,…)…… đã được viên mãn. Con xin hồi hướng công đức tu tập và phúc báo cúng dường hôm nay đến cho gia đình chúng con được tiêu trừ ác nghiệp, được:… (nói tâm mong cầu của mình…), được thuận duyên trong các công việc để an ổn tu tập theo Pháp của người Phật tử tại gia.

Con cũng xin hồi hướng công đức tu hành cùng phúc báo phát nguyện cúng dường hôm nay cho các vong linh để các vong linh sẽ cùng với con từ nay cho tới vô lượng kiếp về sau được tu tập theo giáo Pháp của Phật, cho tới ngày được thành Phật.
Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

7. Tam Tự Quy

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng (1 lễ).
Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lễ).
Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại (1 lễ).

HẾT

LƯU Ý: Nếu các Phật tử ở xa, muốn cúng dường về chùa Ba Vàng, nhưng không có điều kiện để về chùa, thì các quý Phật tử khi cúng lễ xong, gom cất phần tịnh tài, có thể gửi ngay sau khoảng mấy tháng, thì gửi về chùa theo số tài khoản sau:

Tài khoản Chùa Ba Vàng

  • Số tài khoản: 0141005656888.
  • Tên tài khoản: Chùa Ba Vàng.
  • Ngân hàng: Vietcombank Quảng Ninh.

Nội Dung Tin Nhắn

Nam Mô A Di Đà Phật, con kính bạch Thầy! Tên con là… ở tại… Hôm nay là ngày… /…/… con vừa gửi vào tài khoản của nhà chùa số tiền là… để hồi hướng cho các vong linh… Con xin gửi danh sách để sư Thầy thỉnh vong linh ạ. Con cũng xin sư Thầy chứng minh và hồi hướng cho cả gia đình con luôn được sự gia hộ của chư Phật, hiện tại được… Con xin thành kính tri ân Thầy ạ!
Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Khi Gửi Tiền Thì Khấn

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ, chư Thiên, Thiện Thần, Hộ Pháp hoan hỉ ủng hộ cho chúng con. Hôm nay là ngày… tháng… năm… con đi gửi tiền cúng dường Tam Bảo mà con đã bạch về chùa Ba Vàng, theo số tài khoản… con xin hồi hướng công đức phúc báo này, cho các vong linh… được về chùa Ba Vàng nghe học Phật Pháp sớm được siêu thoát, từ nay tới vô lượng kiếp về sau con cùng với các vong linh được tu tập theo giáo Pháp của Phật cho tới ngày được thành Phật, trong hiện tại con xin hồi hướng cho cha mẹ… được… hồi hướng cho con được (công việc… đọc ý mình ra). Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

LIÊN HỆ

Nếu có bất cứ vấn đề gì thắc mắc, kính mời quý đạo hữu liên hệ với:
1) Chùa Ba Vàng:
– Số tổng đài Chùa Ba Vàng: 19008968
+ Ban Tri khách (cố định): 02036557799
+ Ban Tri khách (di động): 0963386533
– Email: chuabavang@gmail.com
2) Thầy Thích Trúc Thái Minh:
– Email: thaythichtructhaiminh@gmail.com
– Nhắn tin vào fanpage:
Thầy Thích Trúc Thái Minh:
facebook.com/ThayThichTrucThaiMinh
3) Quý vị có thể liên hệ và nghe các bài chia sẻ, các bài trạch Pháp của Phật tử Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán), là Phật tử đang tu học tại Chùa Ba Vàng qua các kênh truyền thông tại đường link sau:
Thông Báo Các Kênh Truyền Thông của Phật Tử Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán)

Content Protection by DMCA.com

Ban Quản Trị

Xem tất cả các bài

Thêm bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *